Thứ Tư, 22 tháng 4, 2026

Chữ Nghĩa Làng Văn - Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

 Chữ Nghĩa Làng Văn 

Ngộ Không Phí Ngọc Hùng


***


Phá

 

Phá lạch biển, nơi của các con sông trước khi đổ ra biển nên nước xoáy, sóng nhiều thường gây nguy hiểm cho thuyền bè. 

Phá Tam Giang thuộc Thừa Thiên, phía Bắc của phá là sông Ô Lâu đổ ra biển, phía Nam là sông Hương đổ ra cửa Thuận An.

(Nguồn gốc một số địa danh miền Nam – Hồ Đình Vũ)


Dấu xưa xe ngựa... đất Thủ - Bình Dương...

Về nguồn gốc, địa chí thành phố Sài Gòn cho rằng, xe ngựacủa Nam Bộ là phỏng theo mô hình kiểu xe song mã củaÂu châu. Các nhà văn Sơn Nam, Nguyễn Nguyên giải thích “thổ mộ” bắt nguồn từ hai chữ “thảo mã” nghĩa là loại xe dùng ngựa để chở cỏ của người Trung Quốc. Người khác cho rằng, trước đây việc chở quan tài để chôn xa phải dùng đến xe ngựa đưa đến chỗ đất (thổ) mồ mả (mộ), nên quen gọi xe ngựa là xe thổ mộ (theo ông Hoàng Anh SGGP số375/1998). Nhưng số đông tác giả cho rằng, vì mui chiếc xe có hình khum khum mu rùa, giống như nấm mộ (mả đất) nên xe được gọi là xe thổ mộ. Ngoài ra có nhiều cụ già Bình Dương lại khẳng định rằng, thổ mộ là tên gọi xe Thủ Dầu Một do nói nhanh, nói gọn của người Nam Bộ mà thành. Cách giải thích trên, nhất là giải thích xe thổ mộ là tên để chỉ xe ngựa Thủ Dầu Một còn phải được tìm hiểu thêm. Nhưng rõ ràng, đất Thủ Dầu Một - Bình Dương có nhiều mối quan hệ trong việc hình thành, sáng tạo cũng như việc sớm sử dụngmột cách rộng rãi và lâu dài đối với chiếc xe thổ mộ này.


Từ cuối thế kỷ XIX, đất Thủ Dầu Một là nơi nghề thủ công phát triển mạnh, kinh tế giao thông hàng hóa rộng khắp nhờ vào nguồn nhân lực, thợ lành nghề đông đảo, nguyên vật liệu gỗ rừng, khoáng sản đặc dụng, dồi dào, lại ở vị trí thuận lợi cho việc giao thương đường thủy, đường bộ, tạo nên một quang cảnh tấp nập “trên bến dưới thuyền”, nhu cầu đi lại, chuyên chở hàng hóa rất lớn. Đường bộ, ngoài đôi chân, phương tiện giao thông gần như duy nhất là xe ngựa, vì thế nghề chế tác xe thổ mộ và nghề chuyên chở bằng loại xe này nhanh chóng phát triển. 

(Hiếu Học - Hoàng Anh)


Từ điển chính tả sai lỗi… chính tả

“Dục: dục dịch”.

(Ts Hà Quang Năng/ Ths Hà Thị Quế Hương)

Tiếng Việt không có khái niệm này. Không lẽ soạn giả muốn hướng dẫn viết từ “ rục rịch”?

(Hòang Tuấn Công)


Bùi Xuân Phái vẽ tranh 

theo thơ


Vịnh cái quạt

Một lỗ xâu xâu mấy cũng vừa
Duyên em dính dán tự bao giờ,
Chành ra ba góc da còn thiếu,
Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa.
Mát mặt anh hùng khi tắt gió,
Che đầu quân tử lúc sa mưa.
Nâng niu ướm hỏi người trong trướng,
Phì phạch trong lòng đã sướng chưa?


cai%2Bquat



Góp nhặt cát đá

Mộng

Đi trong cõi mộng ta đừng mộng
Đứng giữa đất trời chẳng hướng trông
Ngồi đây soi bóng mình qua lại
Nằm ngủ mơ màng nhớ tánh không.


Hay dở dở hay: 

Đây là đầu mối của các bình giá về thơ Bùi Giáng!
Đa số các nhà phê bình đều đánh giá thơ Bùi Giáng đến mức cạn nguồn tiếng Việt ở độ ca ngợi. Tôi theo "phe" này, nhưng ngợi ca bằng lời nôm: thơ Bùi Giáng, một là: hay... ơi là hay; hai là: không phải chỉ có hay! "Phe" chê thì không nhiều, điển hình là Trần Hữu Thục, Thụy Khuê, Phan Nhiên Hạo...
Giá có ai cầm bút dọa... giết, tôi cũng không đồng ý với Trần Hữu Thục rằng: "Nói cho rõ ràng ra, thơ của Bùi Giáng dở. Trừ một số câu thơ hay – chưa hẳn là rất hay –, còn lại hầu hết thơ ông đều dở", "Ta có thể nói, cái dở trở thành tính cách của thơ ông". 


Cũng như ít san sẻ được với Thụy Khuê: "Bùi Giáng để lại hàng ngàn bài, có những câu thơ tuyệt hay, nhưng chính sự lập lại những khám phá ngôn ngữ buổi đầu khiến thơ ông trở thành khuôn sáo về mặt từ ngữ cũng như tư tưởng". Vâng, sự nhàm lặp là có. Nhưng với cái "thằng" nhàm lặp chịu trách nhiệm ở nhiều câu dở, cũng khó có thể thể thổi tội hắn lên như vậy. Trong một dịp ngồi chuyện phiếm với Phạm Duy, tôi nhắc đến thơ họ Bùi với ý ca, họ Phạm gật gù vẻ cho qua, rồi không đừng được ông hơi nhăn mặt: "Nhưng lắm câu nhàm! Lặp lại quá


Cái nhàm ở cấu tứ, ngôn từ trong thơ Bùi Giáng, nhiều người nhận ra như thế.

(Đỗ Quyên)


Trần Hữu Thục: Bùi Giáng Giữa Chúng Ta; trích “Viết và Đọc”, Văn Học, California 1999
Phan Nhiên Hạo: Bùi Giáng Như Tôi Thấy (talawas.org 8-10-2003)


Đừng tưởng

Đừng tưởng rằm sẽ có trăng.. 

Trời giăng mây xám mà lên đỉnh đầu

(Bùi Giáng)


Làm báo văn học ở hải ngoại 

Mai Thảo và tạp chí Văn tục bản tại Hoa Kỳ

Đó là ‘toà soạn’ tạp chí Văn.

Đó là nơi làm việc, ngơi nghỉ, nấu nướng, ăn ngủ của chủ nhiệm kiêm chủ bút kiêm thư ký toà soạn kiêm kỹ thuật mỹ thuật kiêm phát hành kiêm thủ quỹ và kiêm... tuỳ phái. Nhất kiếm trấn môn liên tục mười năm nay!

Đó cũng là nơi, vào một số ngày nhất định trong tháng, ông ngồi trước chồng bao thư cao ngất trên năm trăm cái, dán ngay ngắn từng con tem, cẩn trọng viết tên từng độc giả, xem lại tỉ mỉ từng địa chỉ (cái nào vẫn giữ nguyên, cái nào vừa thay đổi, cái nào thêm, cái nào bớt, cái nào sắp hết hạn cần nhắc nhở.) Công việc lẽ ra chỉ giải quyết trong hai tiếng đồng hồ, nếu sử dụng máy rập tem và đưa danh sách độc giả dài hạn vào computer (nhà thơ TYT và nhà báo ĐNY từng nhiều lần tình nguyện làm giúp.) 


Nhưng vẫn nhất định giải quyết theo lối ‘thủ công nghệ’. Hỏi tại sao? Trả lời: "Tôi thích thế. Các bạn làm hai giờ, tôi làm hai ngày, đã sao?" "Có sao chứ, thưa anh, tốn thì giờ vô ích." "Không vô ích đâu." Và giải thích: "Nhiều độc giả gửi thư về, nhận xét: mười năm nay, suốt chiều dài của tuổi thọ Văn, chưa một lần báo thất lạc, và vẫn tuồng chữ đó, mười năm không thay đổi. Cảm động lắm sự trân trọng của nhà văn đối với độc giả." 

Dừng lại để rít dài một hơi thuốc, tiếp: 

"Tôi không muốn sử dụng những tiện nghi của máy móc là vì vậy. Làm như tôi đang làm tuy cực đôi chút nhưng chắc chắn sẽ tạo được cảm tưởng gần gũi giữa chúng ta, những người viết, và họ, những người đọc."


(Khánh Trường)


Tiểu sử : Khánh Trường tên thật: Nguyễn Khánh Trường. Sinh  năm 1948 tại Quảng  Ngãi,  hiện định cư ở California.

Tác phẩm : Chỗ Tiếp Giáp Với Cánh Đồng, Hai Mươi Năm Văn Học Hải Ngoại 1975-1995, Buồn Ơi, Tôi Bỏ Tôi Chìm Đắm, Chung Cuộc.



Mộng

Đi trong cõi mộng ta đừng mộng
Đứng giữa đất trời chẳng hướng trông
Ngồi đây soi bóng mình qua lại
Nằm ngủ mơ màng nhớ tánh không.


Sử gia Nguyễn Đình Đầu buồn 

vì sách Petrus Ký bị thu hồi

Học giả Vương Hồng Sển:

“Trương Vĩnh Ký, Trương Minh KýHuỳnh Tịnh Của là ba ông minh triết bảo thân, gần bùn mà chẳng nhuốm mùi bùn, không ham "đục nước béo cò" như ai, chỉ say đạo lý và học hỏi, sống đất Tào mà lòng giữ Hán, thác không tiếng nhơ, thấy đó mà mừng cho nước nhà những cơn ba đào sóng gió hiếm người xứng danh học trò cửa Khổng”.


Nhà văn Sơn Nam:

“Ông Trương Vĩnh Ký từ khi đỗ đạt cho đến khi mất vẫn tỏ ra thân Pháp. Tuy nhiên, người ở miền Nam không bao giờ khinh rẻ ông. Ông không gia nhập Pháp tịch; trước khi mất, ông biết thân phận của người học giả sống trong thời kỳ khó khăn... Ông này khi sanh tiền tuy là nhà nước tin cậy mặc dầu chớ chẳng hề ỷ thế mà hại quê hương, chỉ vẽ cho các quan Lang Sa biết phong tục lễ nghĩa của con nhà An Nam, cho khỏi chỗ mích lòng nhau, làm cho mẹ gà phải thương con. Đêm ngày lo đặt sách này dịch sách kia cho kẻ hậu sinh dễ học. Thiệt là quan thầy của cả và Nam Kỳ...


Ngoài những tác phẩm biên khảo mang tính cách bác học, ông Trương vĩnh Ký còn chú ý đến độc giả bình dân, lời văn theo lời ăn tiếng nói thông dụng lúc bây giờ. "Chuyện Đời Xưa" của ông cùng là "Chuyện Giải Buồn" của Huỳnh Tịnh Của hãy còn được nhắc nhở”


Giáo sư Thanh Lãng:

“Trương Vĩnh Ký không đạo mạo, không cao kỳ; ông trai trẻ hơn, ông mới hơn... Và nhờ ông, câu văn Việt được giải phóng khỏi những xiềng xích chữ Hán. Chủ trương của ông chính là "cách nói tiếng An Nam ròng" và viết "trơn tuột như lời nói". Nếu đem phân tích theo ngữ pháp thì thấy lôi thôi, nhưng so với văn xuôi khác ra đời sau ông 20, 30 năm, văn ông vẫn còn hay hơn, mạch lạc khúc chiết hơn”


Giáo sư Nguyễn Huệ Chi:

“Những biên soạn của Trương Vĩnh Ký đã có những đóng góp quan trọng cho một số ngành khoa học đương thời, nhất là khoa ngôn ngữ học và khoa học lịch sử… 

Các sáng tác của ông nói lên ít nhiều cá tính một con người cần mẫn trong công việc, có cái nhìn tinh tế và óc tò mò trước sự vật, nhiều lúc có khả năng hài hước hóa mọi chuyện ở đời...” 


Nhà văn Vũ Ngọc Phan:

“Trong số những sách dịch thuật, khảo cứu và sáng tác của ông, người ta thấy chỉ những sách khảo cứu của ông là có giá trị hơn cả... Người ta thấy ông rõ là một nhà bác học có óc tổ chức và có phương pháp...” 


Học giả Nguyễn Văn Tố tóm tắt sự nghiệp của Trương Vĩnh Ký gọn trong 3 tiếng bác học, tâm thuật, khiêm tốn


(Đoàn Lê Giang)



Ngẫm chuyện hồi xưa

Những tháng đầu tiên sau tháng 8/1945, trong giai đoạn này, chính phủ cũng áp dụng chương trình Hoàng Xuân Hãn có sửa đổi lại đôi chút để đáp ứng với tình thế “cấp bách và khó khăn”. Mãi tới niên khóa 1951-1952 mới thay thế bằng chương trình phổ thông 9 năm, và từ niên khóa 1956-1957 đổi thành 10 năm. Sau năm 1975, miền Bắc mới quay lại chương trình 12 năm từ niên khóa 1981-1982.


Ở các vùng Pháp chiếm cũng áp dụng chương trình Hoàng Xuân Hãn, sửa đổi đôi chút ở các môn Việt Văn, Sử Địa, Công Dân, còn các môn khoa học thì vẫn giữ nguyên. Sau năm 1954, ở miền Nam, chương trình Hoàng Xuân Hãn vẫn được xem là bộ khung để sửa đổi, cập nhật, kể cả các môn khoa học cho phát triển chung. Hệ 12 năm vẫn duy trì cho bậc giáo dục phổ thông, phân ban ở đệ nhị cấp (cấp 3 bây giờ), với ban A (Lý hóa Vạn vật), ban B (Toán lý hóa), Ban C (ngoại ngữ văn chương/Triết cho lớp 12), và ban D (cổ ngữ và văn chương/Triết). 


Điều thấy rõ là thể chế thi cử ngày càng nhẹ. Mới đầu là bỏ thi vấn đáp ở kỳ thi trung học đệ nhất cấp từ năm 1959, và rồi bỏ luôn thi vấn đáp ở đệ nhị cấp.


Kể từ niên khóa 1962- 1963, miền Nam bỏ thi tiểu học. Năm 1967 bỏ thi trung học đệ nhất cấp, và năm 1974 bỏ luôn thi tú tài 1.

(Vũ Thế Thành)



Chữ nghĩa làng văn

Lưu Trọng Lư

Ấy vậy mà khi gộp tất cả lại, nằm trong một tổng thể, bài thơ hay đến, lạ lùng, người ta không còn thấy dấu vết thô vụng đâu nữa

Đây là điều duy nhất xảy ra ở văn học Việt Nam và chỉ xảy ra có một lần. Cái hay của bài thơ này không nằm ở câu chữ. Nó hoàn toàn siêu thoát, là cái hồn phảng phất đâu đó đằng sau những con chứ rất sáng tỏ mà lại vời vợi mông lung kia. Người ta chỉ cảm thấy được, chứ không thể nói ra được một cách rạch ròi. 


Đây là bức tranh được vẽ bằng hồn, bằng cả điệu nhạc rất riêng của tâm hồn thi sĩ. Bởi thế, người đọc cũng phải dùng hồn để chiêm ngưỡng nó, chứ không thể ngắm nó bằng lý trí tỉnh táo. Đã không ít nhà phê bình nghiên cứu mang lý trí ra để làm con dao cùn mổ xẻ những con chữ rất ngơ ngác này. Có người còn viện đến cả thi pháp học để cố hiểu cho bằng được bài thơ, lấy thi pháp làm chìa khoá mở cánh cửa thực dụng, đi vào cõi mù mờ tâm linh này. Bằng cách vận dụng thi pháp, có người cho đây là bài thơ nói về nỗi cô đơn. Không phải ngẫu nhiên bài thơ có 9 câu mà đã có đến ba câu điệp Em không nghe
Em không nghe mùa thu 
Em không nghe rạo rực 
Em không nghe rừng thu... 


(Chân dung và đối thoại - Trần Đăng Khoa)


Mộng

Trần gian vốn là mộng
Thực hư cũng là mộng
Say mộng hay tỉnh mộng
Đều là mộng mà thôi.



Giai thoại làng văn

Từ xưa tới nay chỉ có hai nhà văn nằm xuống được hai nhà thơ bạn của mình làm câu đối tiễn đưa bằng cách ghép tên tác phẩm của nhà văn: Đó là nhà thơ Đồ Phồn (Bùi Huy Phồn) và thi sĩ Vũ Hoàng Chương.


* Bùi Huy Phồn làm thơ tiễn bạn mình là Vũ Trọng Phụng như sau:

Cạm bẫy người, tạo hóa khéo ghen chi, qua Giông tố lại thêm Số đỏ

Số độc đắc, văn chương vừa trúng thế, bỗng Dứt tình không một tiếng vang


* Vũ Hoàng Chương có hai câu đối tiễn biệt nhà văn Nhất Linh:

Ngườ quay tơ, Đôi bạn, Tối tăm, Anh phải sống chứ sao Đoạn tuyệt

Đời mưa gió, Lạnh lùng, Bướm trắng, Buổi chiều vàng đâu nhỉ Nắng thu”.



T.T.Kh. và chuyện tình thơ “Hai sắc hoa ti gôn”

Kể từ đó, năm 1937 – năm Hai sắc hoa ti gôn xuất hiện trên Tiểu thuyết thứ bảy - Bây giờ đã là hơn 70 năm rồi mà người ta vẫn không ngớt tìm kiếm: T.T.Kh. là ai ? Nghĩ cho kĩ nguyên nhân thì sở dĩ có chuyện rộn rã trong làng thơ như thế trước hết là vì bài thơ hay, hay vì cái tình của nó được bộc lộ rất thực“, cái tình của một phụ nữ đã yêu và rồi cố tình quên đi, đào sâu chôn chặt mối tình đau xót, bất hạnh nhất của mình

Bài thơ hay ngay ở  những câu thơ đầu cho đến cuối bài thơ thì xót xa lắm. Có câu, ý thơ bình dị, gần với suy tưởng, ngôn ngữ của con người nên nhiều người đọc, và thuộc, nhiều câu lại được cách điệu mang dáng vẻ hiện đại của thơ phương Tây:

Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng,

Trời ơi! Người ấy có buồn không?

Có thầm nghĩ đến loài hoa vỡ,

Tựa trái tim phai, tựa máu hồng ? 

 

Trong cuộc đời, mỗi ngày qua lại có biết bao mối tình tan vỡ nhưng đã có mấy ai viết được những vần thơ tả tình rất thực như Hai sắc hoa ti gôn ? Tình trong thơ gần gũi với cái tình chung của nhiều người lắm, có mấy ai là không chép chuyền tay cho nhau những bài thơ hay trong đó Hai sắc hoa ti gôn…?


(Nguyễn Cẩm Xuyên)



“Lầu xanh” xưa và nay

Vì sao Nguyễn Du lại tả như vậy? Điển tích lưu truyền rằng: ở các lầu xanh ngày xưa, các mụ chủ chứa kiểu như tú bà kể trên thường dựng một bàn hương án tại giữa nhà, phía trên có treo một tượng đồ. Tượng này vẽ hình người có đôi lông mày màu trắng gọi là Bạch Mi thần (thần Mày trắng). 
Sách ‘Dã Hoạch Biên’ có chép: “Các thanh lâu thường thờ thần Bạch Mi. Thần này mặt to, râu dài, cưỡi ngựa cầm dao, xem na ná như hình Quan Công, nhưng lông mày trắng”.


Các thanh lâu thời xưa ấy đều quen thờ như vậy. Họ coi vị này như tổ sư của nghề để thờ phụng cầu tài, những mong thần Bạch Mi phù hộ cho họ làm ăn phát đạt, cửa hàng cũng được đông khách giống như bao phường buôn bán khác. Vậy cớ sao trong đoạn thơ tiếp sau Nguyễn Du lại viết:

“Cô nào xấu vía, có thưa mối hàng 
Cởi xiêm trút áo sỗ sàng 
Trước thần sẽ nguyện mảnh hương lầm rầm 
Đổi hoa lót xuống chiếu nằm 
Bướm ong bay lại ầm ầm tứ vi”


Theo tư liệu ghi chép lại từ thời nhà Minh (1368-1644), các cô gái hành nghề ở lầu xanh mỗi khi xui xẻo ế hàng thường có cách đuổi vía: họ bước đến trước bàn thờ thần Bạch Mi, trút bỏ hết xiêm y, đốt hương vái lạy cầu xin. Đoạn lấy hoa mới đổi lấy hoa đã cúng trên bàn thờ rồi đem lót dưới chiếu mình nằm. Theo họ thì làm như thế ắt sẽ đắt khách. 

Sau này khi khái quát quãng đời đầy éo le, tủi nhục của Kiều kể từ độ gia biến và lưu lạc, Nguyễn Du cũng đã viết :

“Hết nạn nọ đến nạn kia, 
Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”


(Đại Kỷ Nguyên)



Sài Gòn năm xưa

Học giả tiền bối trong Nam, cụ Trương Vĩnh Ký, trong "Excursions et Reconnaissances" (tạp chí về du lãm và thám hiểm), năm 1885, có viết một bài khảo cứu Pháp Văn "Souvenirs historiques sur Saigon et ses environs" (ký ức lục khảo về lịch sử Sài Gòn và vùng phụ cân).


Nay tôi dựa theo bài ấy làm nồng cốt mà kể tiếp, nhắc lại những sự biến đổi từ thưở đó. Bắt tay vào việc, cốt ý của tôi là muốn cống hiến ra đây mớ hiểu biết lụn vụn và mớ nghe thấy vặt vãnh về Sài Gòn. Ở đây, tôi chú trọng nhiều nhứt là những đoạn sử buổi giao thời: Pháp - Nam, những việc chưa ai nói rõ ràng, may tôi được nghe tận tai, hoặc thấy tận mắt, nhiều đoạn do hiểu biết riêng, lắm đoạn nhờ các cố lão thuật lại. Tôi không dám chắc đúng cả, nhưng "ăn trầu gẫm mà nghe" bây giờ chưa nói còn đợi lúc nào? Có nói có cãi, lần hồi mới phăng ra sự thật.


Tôi không quên cám ơn anh bạn thân Lê Ngọc Trụ, người nhau rún Chợ Lớn, đã dày công giúp tôi xây dựng tập nhỏ nầy.


(Sài Gòn năm xưa – Vương Hồng Sển)



Về cơm thố Chợ Cũ năm xưa  

Gạo dùng nấu cơm thố

Là loại gạo ngon đặc biệt như gạo Sóc Nâu, gạo hột dài, gao nàng hương Chợ Đào. Cho ít gạo, đã được gúc sạch để ráo nước vào từng cái thố sành. Tùy theo loại gạo mà gia giảm nước. Nước chỉ được châm vào thố một lần mà thôi, không được châm thêm. 

Tất cả đều do kinh nghiệm của người bếp làm sao cho cơm vừa ăn, không khô, không nhão. Người bếp phải biết chắc từng cơm nào đã chín để chuyển qua từng khác, bằng cách chồng nhiều từng cơm đã chín lên nhau để chỉ giữ cơm luôn được nóng.


Hấp cơm thố quả là cầu kỳ và công phu! Cơm thố như vậy là “cơm trắng đặc biệt”, không giống như cơm trắng thường nấu bằng nồi đất mà chúng ta ăn hằng ngáy ở nhà. Hột gạo trong thố được làm chín bằng cách hấp nên mùi thơm của gạo len ẩn vào trong ruột hột cơm, làm cho cơm thố thơm hơn cơm nấu. Cơm thố còn có đặc tánh nữa là giữ nóng lâu, để nguội hấp lại mà không bị khô. Đặc tính nầy cơm nấu thường không có.

Vào tiệm cơm thố, “phổ ky” bưng lên, ăn bao nhiêu tính tiền bấy nhiêu. Bạn không cảm thấy ăn cơm thừa của người khác. Thố cơm bé xíu, trông hấp dẫn, và hai đũa là hết


Được biết tới nay vẫn còn một tiệm cơm thố kỳ cựu ở số 45, đường Tản Đà, quận 5, Chợ Lớn, mang bảng hiệu tiếng Việt là Giang Nam, nổi tiếng nhờ bán độc nhứt món cơm thố, không bán thêm mì hủ tiếu như tiệm khác. Bảng hiệu cơm thố Giang Nam có mặt vào khoảng 1942, nhờ được đạo diễn phim Người Tình (quay năm 1992) chọn để tái hiện cảnh sanh hoạt hàng ngày của Chợ Lớn thời thập niên 30-40 thế kỷ trước.

(Trần Văn Chi)


Phố phuờng Hà Nội

Chúng tôi lặn lội kiếm sống giữa đất Hà Nội nhốn nháo. 


Pho Hang Duong

Phố Hàng Đường


Có lúc bâng khuâng. Có lúc đứng lại cả buổi ngẩn ngơ ngắm tủ kính hàng vải vóc hiệu Tây Quăng cuối hàng Đường và cửa hàng tạp hóa Tây lùn mở số quay có thưởng ở chợ hàng Da. 

Có khi lang thang suốt đêm nghe tiếng đồng hồ quả lắc các phố hàng Đào, hàng Ngang đánh chuông chen nối nhau đầu phố cuối phố. Hàng đàn chuột chạy 2 bên cống. Một lúc thấy hiện ra những bóng người đứng đập cửa chan chát rồi gọi: Đổ thùng, đổ thùng!. Thật rõ đấy là tiếng gọi "đổi thùng, đổi thùng", phu đổi thùng xia của nhà thàu Năm Diện đã đi làm. Vừa đúng nửa đêm. 

Đến lúc trời sắp sáng, rồi trời sáng. 

Quanh bờ hồ Gươm, trên chòm lá cây cọ, những đàn sếu, đàn mòng két phương xa về đậu đen ngòm, cứt lướt thướt trắng xóa xuống. Trên bờ tường đá nhà pha Hỏa Lò, nhô lên cái mặt đen sì của người lính da đen bên đầu lưỡi lê sáng trắng. Đã đến giờ đổi tan canh. Năm trước còn trông thấy cả đôi giầy người lính gác bồng súng đi dạo trên mặt đường chăng dây điện cắm mảnh chai lởm chởm. Bây giờ không thấy nữa. Bức tường quanh nhà tù Hỏa Lò mới được xây cao thêm, có đến 1 thước, giờ vẫn còn hằn cái ngấn xi măng. 
Giữa Hà Nội quen thuộc quá mà phường phố thật xa lạ.


(Tùy bút Hà Nội băm sáu phố phường – Tô Hòai)


Tái dê

Tái dê chấm với tương bần

Ăn vào một miếng bần thần như dê

Đêm về vợ… lạy tỉ tê

Tối mai ta lại tái dê tương bần


Ba Giai Tú Xuất là ai?

Trả lại tên cho tác giả Nguyễn Nam Thông

Ba Giai Tú Xuất không còn là truyền miệng nữa, tuy xuất hiện rất nhiều trong các cửa hàng sách như Kiều Văn đã tuyển chọn nhưng đích danh tác giả là ai thì mới đây Tạp Chí Kiến Thức Gia đình và NXB Hội Nhà Văn tổ chức tọa đàm về ‘Ba Giai Tú Xuất’ và người biên soạn đầu tiên cùng các truyện lần đầu in thành sách năm 1934, đó là nhà văn Nguyễn Nam Thông


Căn cứ vào bản in năm 1934 do Tân Dân Thư Quán (93 Hàng Bông, Hà Nội) được lưu giữ tại thư viện Paris, Pháp xuất bản tại Hà Nội. Nhà nghiên cứu Vũ Văn Luân đã dày công sưu tập được bản in này từ thư viện ở Paris, khi được biết bà Bích Ngọc  con gái cố nhà văn ôm ấp ước nguyện sau hơn 70 lưu lạc để in lại sách của cha mình ông đã gởi về nước và NXB Hội Nhà Văn đã tái bản.

Nhà văn Hoàng Đình Quang, biên tập tác phẩm đã khẳng định: “Nếu trả lại tên người biên soạn đầu tiên cho một tác phẩm ít giá trị thì chúng tôi đã không làm. Sự đóng góp của cụ Nguyễn Nam Thông trong việc văn bản hóa Ba Giai - Tú Xuất rất lớn. 

Đọc tác phẩm này bằng văn bản của Nguyễn Nam Thông, chúng ta thấy rõ công sức của người biên soạn khi sắp xếp các truyện theo ý đồ riêng. Cụ Nguyễn Nam Thông đã gần như viết lại các chuyện kể dân gian bằng ngôn ngữ của thời mình sống gần với thời các nhân vật sống… Do đó, nếu có tái bản, chúng tôi đã có ý nghĩ là sẽ bỏ chữ biên soạn đi".

(Nguyễn Tý)


Phở

Những hàng phở đầu tiên ở Hà Nội phải kể đến quán Cát Tường có chủ người Việt chuyên bán phở bò ở số 108 phố Cầu Gỗ và quán phở Tàu bán cả đồ xào nấu trước bến xe điện Bờ Hồ. 

Năm 1918 xuất hiện thêm hai quán phở hàng đầu khác, một ở hàng Quạt, một ở phố hàng Đồng. Phở Trưởng Ca số 24 phố Hàng Bạc từng là một quán phở sớm nổi danh ngay từ thời đầu. 


Cuốn biên niên sử “Hà Nội Nửa Đầu Thế Kỷ XX” cho biết “đền Thôn Dũng Thọ... còn gọi là đền Trưởng Ca, tên một người vừa làm từ coi đền vừa làm nghề bán phở”. “Đình phở” này bán tới 4 giờ sáng hàng ngày. Sau này khi ông Trưởng Ca mất, lại có ông phở “Sửa sai” thay thế kế nghiệp thức khuya “hầu phở” cho đời. Chỉ trong một thời gian ngắn, cửa hàng phở mở thêm nhiều và đến năm 1930 hàng phở đã lan tràn khắp phố phường Hà Nội. Thoạt đầu người ta chỉ bán phở chín (vì nguồn gốc từ xáo bò). Sau các hàng phở sáng tạo thêm phở tái và được nhiều người hưởng ứng chấp nhận, chính thức khai sinh thêm một kiểu phở mới. Song từ sau 1954, phở tái lấn dần phở chín.


Chỉ dăm năm sau khi ra đời, nhiều ông chủ phở không ngừng tìm tòi sáng tác, cho ra đời “món phở cải lương” muôn màu muôn vẻ. Đầu năm 1928 ở con phố mang tên Jean De Puis (nay là phố hàng Chiếu) món phở có vị húng lìu, dầu vừng, đậu phụ. Anh phở Sứt sáng chế ra món phở giò (thịt bò cuốn lại xắt mỏng lừng lát như khoanh giò), phở Phủ Doãn nhỏ thêm giọt cà cuống, cái hương vị từng làm thăng hoa “anh bún chả”, “bác bún thang” tới cái đỉnh tuyệt tác lại có vẻ giết chết vị của phở. 

(Nhiều tác giả)


Trở về thập kỷ 50 : cà phê vớ

Hồi đó người Sài Gòn chưa ai biết kinh doanh với nghề bán cà phê cả. Ngành kinh doanh… có khói nầy là do các xếnh xáng A Hoành, A Coón, chú Xường, chú Cảo… chủ các tiệm hủ tíu, bánh bao, há cảo, xíu mại. Vô bất cứ tiệm hủ tíu nào vào buổi sáng cũng có bán món cá phé, cà phê, cà phe đi kèm để khách có thể ngồi đó hàng giờ nhăm nhi bàn chuyện trên trời dưới đất.


9-ca-phe-sg-2

Hồi đó chẳng ai biết món cà phê phin là gì đâu ? Các chú Xường, chú Cảo, A Xứng, A Hía chỉ pha độc một loại cà phê vớ. Một chiếc túi vải hình phểu được may cặp với một cọng kẻm làm vành túi và cán. Cà phê bột đổ vào túi vải (gọi là bít tất, hay vớ đều được). Vì chiếc vợt cà phê nầy hơi giống như chiếc vớ dùng để mang giày nên “dân chơi” gọi đại là cà phê vớ cho vui.

Chiếc vớ chứa cà phê nầy sau đó được nhúng vào siêu nước đang sôi, lấy đũa khuấy khuấy vài dạo xong đậy nắp siêu lại rồi… “kho” độ năm mười phút mới có thể rót ra ly mang ra cho khách. Chính cái “quy trình” pha chế thủ công đầy phong cách Tàu nầy mà dân ghiền cà phê còn gọi nó là cà phê kho bởi chỉ ngon lúc mới vừa “kho nước đầu”. Nếu ai đến chậm bị kho một hồi cà phê sẽ đắng như thuốc Bắc.


Có mấy khu vực có những con đường qui tụ rất nhiều tiệm cà phê hủ tíu. Ở Chợ Cũ có đường Mac Mahon có rất nhiều tiệm cà phê kho từ sáng đến khuya. Ở bùng binh Ngã Bảy có một tiệm cà phê hủ tíu đỏ lửa từ 4 giờ sáng cho đến tận 12 giờ đêm. Còn nếu ai đi lạc vào khu Chợ Lớn còn “đã” hơn nhiều bởi giữa khuya vẫn còn có thể ngồi nhăm nhi cà phê, bánh bao, bánh tiêu, dà – chả – quải đến tận sáng hôm sau.

(Thú vui tao nhã của người Sài Gòn – Khuyết danh sưu tầm)



Thử tìm hiểu tên "Sài Gòn" 

Đại Nam Quốc Âm Tự vị của Huỳnh Tịnh Của viết: Sài tức là củi thổi. Gòn tên loại cây có bông nhẹ xốp, nhẹ, trong Nam hay dùng để dồn gối, dồn nệm, ngoài Bắc gọi là cây bông gạo. Dưới thời đại Cam-bốt, Sài Gòn ở giữa rừng (Prei Mokor ). Vịn theo thuyết này danh từ “Sài Gòn”, trước định do “Prei Nokor” là “rừng gòn” không vững. Nay nên dịch “lâm quốc” đúng hơn. 

Tóm lại. danh từ “Sài Gònkhông ắt do điển “Prei Nokor” mà có.

 

Khi Tây Sơn (1773), kéo vào Nam, thuận tay, họ bèn quét đuổi quân Tàu ra khỏi Cù lao Phố (Biên Hòa) là nơi tàn quân Minh đến lập cơ sở từ năm 1680. Khi ấy, những khách thương Tàu mất chỗ bèn rút lui theo con sông Tân Bình (Bến Nghé), họ nhắm xem địa thế, lựa vùng đất ở giữa chẹn đường Mỹ Tho đi Cù lao Phố mà xây dựng tân sở, tân sở này sau trở nên Chợ Lớn ngày nay vậy. Họ lấy đất đắp thêm bờ kinh chỗ mới thêm cao ráo

Và họ đặt tên chỗ mới là “Tai-Ngon”, hoặc “Tin-Gan”, mà phát âm theo giọng Quảng Đông thì nghe ra “Thầy Ngồn” hay “Thì Ngòn”. Xét theo mặt chữ, thì “Thầy Ngồn”, “Thì Ngòn” đọc theo giọng Việt là “Đề Ngạn”: Đề, Đê: là cái bờ, cái đê ngăn nước. Ngạn: bờ sông cao dốc. Đề Ngạn là vùng Chợ Lớn cũ ngày nay vậy 

(xóm Quảng Đông Nhai chỗ miếu Quan Đế).


(Sài Gòn năm xưa – Vương Hồng Sển)


Cua cáy phiếm lược - cua Alaska (2)

Cua Huỳnh đế tiến vua


Cua dep tien vua


Ắt phải nhúc nhắc đến cua Hoàng đế của ta (đúng tên là cua Huỳnh đế), là “cua tiến vua” ở Cù lao Chàm, Quảng Nam (ở Cù Lao Chàm họ gọi là cua đá), trên đảo Lý Thái Sơn ở Quảng Ngãi họ gọi là cua dẹp.

Kỳ cổ với nghĩa kỳ lạ, kỳ dị bèn tất tật đến Quy Nhơn có những món ăn lạ kỳ như mắt cá ngừ, đuôi cá mập. Riêng Bình Định có bánh đa nướng, không bẻ mà ăn, phải kính cấn kính quân vương Quang Trung bằng cách ‘’gõ’’ lên đầu cốp, cốp cho vỡ vụn ra.

Lạc chốn chân ai đến nơi chốn có thiên cổ kỳ án là thành Hoàng Đế của vua Nguyễn Nhạc không thể không “thao thiết” đến món đế vương… cua Huỳnh đế


Cua Binh Dinh

Nhìn cua Huỳnh Đế giống như một chiếc mai rùa hoặc có thể hình dung như đầu con bọ. Chúng thường có màu đỏ cam, đỏ lửa. Cua Huỳnh Đế khác cua dân giã vì chỉ có 6 càng và 2 càng lớn và 2 mắt có thể thụt mắt vào, lòi ra như đầu rù khi thấy nguy hiểm. Mai chữ “u”, kỳ cổ ở phần sau như…

đuôi tôm hùm Quy Nhơn.


Cua Huỳnh đế có tên Tây là spanner crab vì càng của nó giống chiếc cờ. Không như những cua khác, cua Huỳnh đế di chuyển về phía trước và lùi lại chứ không di chuyển ngang. Cua sống ở vùng ven biển dọc theo bờ biển phía đông nước Úc, từ Yeppoon ở Queen Island đến bờ biển phía bắt New South Wales. Tại Việt Nam, cua Huỳnh đế được tìm thấy nhiều nhất ở Quy Nhơn, Bình Định, Phú Yên, Tuy Phong, Sa Huỳnh. 


(1) Phụ bản của người tầm khảo NK về vùng biển Bering

Theo Dr. J.Y Chu cùng thuyết cội nguồn tộc Việt từ biển tới. Từ  thời cổ đại nguồn gốc con người ta qua các nhà khảo cổ học, ngôn ngữ học, nhân chủng học, hải dương học, sinh vật học, huyết thống di truyền học DNA và ADN. Nhất là môn tiền sử học, dựa trên khai quật, đào xới các di tích tiền sử các di vật, v…v...

Dr Chu trong The National Academy of Sciences (USA 1998), bằng vào di truyền học DNA, ông đã chứng minh được con người cận đại (sapiens) ở vùng Đông Nam Á khởi nguồn từ Đông Phi Châu, khoảng 150.000 năm trước, lúc này các lục địa chưa tách rời. Họ đi vòng đến quần đảo Nam Dương khoảng 90.000 năm. Sau họ đi ngược lên vùng Đông Nam Á tụ lại ở miền đồng bằng Bắc Việt, khoảng 50.000 năm. Rồi nhóm người này đã đi lên hướng bắc vào lục điạ Trung Hoa, khoảng 35.000 năm.

Cũng như Dr Chu, trong The Drowned Continent of South East Asia, Dr. Stephen Oppenheimer qua các nhà hải dương học cho biết: Người Phi Châu đặt chân đến Đông Nam Á, vùng này nằm trong thời kỳ biển thóai. Đất liền từ Việt Nam kéo dài tới đảo Hải Nam và ông gọi vùng đồng bằng Bắc Việt lục địa NamHailand. Theo Stephen, toàn bộ đồng bằng Bắc Việt bị nhận chìm dưới nước. Những người này rời đồng bằng Bắc Việt  để tránh nạn lụt bằng cách đi bộ qua NamHailand vì vùng là đất khô ráo. Họ đi bộ ngược lên phía bắc qua Nhật, tới vùng biển Bering khi ấy thuộc Alaska của Nga. Họ vượt vùng biển Bering (vùng “đất” của giặc biển Viking thời xa xưa trú ẩn) qua Canada, xuống nước Mỹ và biến thái thành sắc dân da đỏ ngày nay ở lục địa này.


Năm 2004, Dr Silvia Gonzaler thuộc trường đại học Lieverpool John Moores, Luân Đôn, sau khi nghiên cứu một số xương sọ cổ đại, vừa được tìm thấy ở Seattle (tiểu bang Washinton) có độ tuổi 12.700 năm, hình dáng dài và hẹp. Bà tuyên bố: “Chúng tôi đã lấy DNA và kết quả như một trái bom. Chúng giống với xương sọ của người Nam Á (Đông Nam Á) vùng nam Thái Bình Dương. Họ nhập cư qua ngả NhậtPolynesia (1), trước thổ dân da đỏ mà xương sọ tìm thấy ở tiểu bang Washington, chỉ có 9.000 năm”. 


(1) Polynesia là quần đảo có gần 1000 hòn đảo ở nam Thái Bình dương thuộc Úc châu. 

Là nơi người da đen Phi Châu đã ghé qua. Khoảng 60.000 năm trước, người hiện đại từ Đông Châu Phi tới Ấn Độ và Đông Nam Á theo con đường phía nam, men theo bờ Ấn Độ Dương (làn sóng rời khỏi Châu Phi lần thứ nhất) tới Úc, rồi sang Bắc Mỹ, v..v…Thổ dân Mỹ Châu từ Châu Á tới và nói chính xác hơn, từ Đông Nam Á, di cư qua Mỹ Châu vào thời tiền sử (đã được minh chứng bằng DNA và rõ hơn nữa là người Maya, DNA giống như người Việt cổ Đông Nam Á) qua con đường từ Đông Nam Á đi lên phía bắc, vượt cầu đất Bering tới Mỹ châu.

(nguồn tổng hợp) 


Nem 3 miền Bắc, Trung, Nam 

Nem là một trong số những món ăn phổ biến trong ẩm thực Việt Nam. Trải dài từ Nam chí Bắc, nem được người dân địa phương biến tấu sao cho phù hợp với khẩu vị của từng vùng miền. Cũng vì lẽ đó mà mỗi địa điểm lại có riêng cho mình đặc sản nem trứ danh gây thương nhớ biết bao thực khách gần xa.


Nem Phùng (Hà Nội)


Nem Phùng (Hà Nội)

Gọi là nem Phùng vì đây là đặc sản của thị trấn Phùng, Đan Phượng, Sơn Tây, do một gia tộc họ Bùi có trên 3 đời làm nem. Tuy món ăn đơn giản nhưng lại có sức hấp dẫn lạ kỳ khiến cho từ người địa phương đến du khách nước ngoài đều cũng khó lòng chối từ. 

Nguyên liệu làm nem Phùng khá đơn giản chỉ gồm thịt nạc, bì lợn, lá sung, gạo nếp, gạo tẻ,… nhưng phải qua quá trình tuyển lựa, chế biến cầu kỳ mới cho ra món nem thơm ngon. Khi ăn nem Phùng, vị ngọt của thịt hòa cùng vị bùi của lá sung và thơm thơm của thính rồi chấm cùng chút tương ớt cay cay. Vậy là đủ gây thương nhớ rồi.

(Khuyết danh)



Nguyễn Tất Nhiên, bao năm tình lận đận

(Bài phỏng vấn của tuần báo Tuổi Ngọc trên số 141 phát hành ngày 5-8-1974 khi anh là sinh viên trường Luật do Trần Hoài Thư sưu tầm từ thư viện đại học Cornell, được trích lại từ tạp chí Thư Quán Bản Thảo số 45 tháng 1-2011.)


Bia - Nguyen Tat Nhien 3


***

Tuổi Ngọc: Bạn làm thơ nhiều ?

Nguyễn Tất Nhiên: Thưa, ít. Bởi tôi rất quí chữ nghĩa, nên lúc nào cũng tự khó khăn với chính mình. Thứ nữa, tôi rất sợ làm độc giả thất vọng hay nói cách khác, tôi rất sợ bị chê !


T.N: Có bài thơ nào bạn cho là ưng ý nhất ?

N.T.N: Thật tình mà nói, bài nào vừa viết xong tôi cũng ngỡ là ưng ý nhất, chỉ sau thời gian thấy chán nhiều hay chán ít, thế thôi. Tuy nhiên, tôi có yêu một bài thơ làm hồi năm 1970, nhan đề Linh Mục, được anh Nguyễn Đức Quang phổ nhạc lần đầu tiên. Bài thơ ấy tôi muốn ví cái hiền lành cái thánh thiện của mình năm 18 tuổi như một vị linh mục. Mà, thi sĩ là một hình thức “linh mục” đi rao giảng lời tình.

(tuần báo Tuổi Ngọc phỏng vấn)


Tiểu sử: Nguyễn Tất Nhiên tên thật: Nguyễn Hoàng Hải. Sinh năm 30.5.1952 tại Đức Tu, Biên Hòa. Mất ngày 3.8.1992 tại California.

Tác phẩm: Thơ Nguyễn Tất Nhiên; Những Năm Tình Lận Đận; Minh Khúc, Thiên Tai



Câu đối

Anh bán thịt "thịt" chị bán thịt, "thịt" rồi lại bán, bán rồi lại "thịt"
Thầy sinh vật vật cô sinh vật, vật rồi lại sinh, sinh rồi lại vật



Phỏng vấn nhà văn Song An Hoàng Ngọc Phách

- Tiên sinh có nhận được cái ảnh hưởng quyển tiểu thuyết của tiên sinh trong văn ta không?

 - Điều đó khó nói quá! Tôi chỉ nhớ một lần, nhà làm báo Ngọc Thỏ gặp tôi, bảo: “Ông nhiều học trò lắm, nhưng toàn là học trò chưa có nghệ thuật bằng thầy”. Tôi tưởng ông nói về học trò trường công, sau mới biết ông nói về ảnh hưởng quyển tiểu thuyết Tố Tâm ấy.


- Trong quyển Tố Tâm, tiên sinh hành văn trọng cái lối cân đối, đọc lên nghe du dương, ý của tiên sinh đối với lối hành văn ấy thế nào ?

 - Hồi ấy, tuy ta đã học Pháp văn, nhưng chúng ta chịu ảnh hưởng lối hành văn của Tàu nhiều hơn. Cái điệu văn cân đối là điệu của Hán văn. ... Ngày xưa, ta viết văn là để ngâm to lên, làm thế nào cho khi đọc nghe du dương là quý. Ngày nay, lúc ta viết bỏ bớt chữ cho đỡ rườm rà, nhưng cũng đừng đi đến cái cực đoan thứ hai, là làm nên những câu văn trúc trắc. Văn chương ta có một tinh thần riêng, cần phải giữ tinh thần ấy, bắt chước một cách triệt để lối hành văn của Pháp thế nào được. Thứ nhất là văn tiểu thuyết, cần tả tình cảm nhiều, hành văn thế nào đọc lên nghe êm đềm vẫn hơn.


- Tiên sinh cho biết ý kiến của tiên sinh đối với những nhà tiểu thuyết ngày nay.

 - Thường tôi vẫn đọc những tiểu thuyết mới xuất bản của ông Nguyễn Công Hoan, Lê Văn Trương v.v... Nhất là tác phẩm của các ông Nhất Linh và Khái Hưng là hai nhà văn quen biết từ lâu. Các ông ấy có một nghệ thuật chắc chắn, văn chương mới mẻ. Ấy là nói riêng về phương diện nghệ thuật; về phương diện ý tưởng, các ông ấy đứng về mặt phá hoại, phá hết... ! Bây giờ còn đương thời kỳ “phá”, chưa đến lúc kiến thiết, nên chưa thể bình phẩm.

(Lê Thanh)


Phở Dậu

Nhớ về khung cảnh phở Dậu ngày xưa, tác giả Đỗ Duy Ngọc viết: 

“Tui là tín đồ của phở. Mà phải là phở Bắc kia. Phở Hoà, Phở Lệ, tui chê. Tui chỉ ăn Phở Dậu. Tui chơi Phở Dậu đã gần năm chục năm nay, từ hồi tui xấp xỉ hai mươi cho đến giờ đã gần bảy chục, chỉ gián đoạn mấy năm đi Tây. Cũng là loại tín đồ ngoan đạo đấy chứ. Hồi xưa nó chưa gọi là Dậu. Hồi đó chỉ là một quán phở nhỏ lợp tôn, trên có chừa một khoảng trống lớn, nắng dọi vào làm thành một vệt ánh sáng mà mấy cha nhiếp ảnh rất mê. Luồng sáng dọi xuống trên người hai bà cụ với làn khói xanh từ bếp củi bay lên rất là nhiếp ảnh. Người bán là hai bà cụ già, nên tui gọi là Phở bà cụ. Ngày trước dân văn nghệ thường ăn sáng ở đây. Tui thường gặp hoạ sĩ Đinh Cường, Trịnh Cung, Đỗ Quang Em, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn…”.


Không thể gọi phở Dậu là tiệm hay quán được. Nó không có được một cái tên. Dậu là tên mà hồi đó thực khách nghĩ là tên của bà chủ. Thực ra bà đứng bán tên là chi, chẳng ai biết. Dậu là tên bà chủ đầu tiên khi tiệm thành lập vào năm 1958. Sau vài năm bà nhường lại tiệm cho bà Uy là bà đang bán phở cho chúng tôi. Bà khoảng ngũ tuần, người nhỏ nhắn, phong thái Bắc Kỳ rặt, bận tíu tít nhưng vẫn không bao giờ quên gu tô phở của từng thực khách quen. Những khách quen không cần phải order nhưng tô phở để trước mặt đúng là tô phở ưng ý nhất. Ngay những  ý thích nhỏ nhặt của khách bà cũng thuộc nằm lòng. Ngày đó khi bát phở của tôi được bưng ra không bao giờ thiếu một chén hành tây bên cạnh. Vắt múi chanh, thêm vào chút ớt, chén hành tây ăn kèm với phở ngon tuyệt vời. 

Cái tên “phở Dậu” chỉ là tên… bán chính thức, thực khách còn đặt cho tiệm này nhiều tên khác. Tác giả Đỗ Duy Ngọc bàn như sau: 

“Sài Gòn có một quán phở bán suốt mấy chục năm mà chủ nhân không đặt tên quán. Trong suốt một thời gian dài, quán đều do khách đặt tên. Đầu tiên là “Phở Công Lý” vì tiệm nằm trong hẻm thuộc đường Công Lý. Thời gian sau, quán thường có đám khách thường xuyên là các sĩ quan Không quân. Thành ra quán được gọi là “Phở Không Quân”. Thời gian mang tên này ngắn ngủi vì sự xuất hiện một thực khách đặc biệt. Đó là tướng Nguyễn Cao Kỳ. Từ đó người ta gọi là “Phở Ông Kỳ” hay “Phở Nguyễn Cao Kỳ”.

(Song Thao)



Chữ nghĩa làng văn

Từ nguyên mẫu đến nhân vật truyện của Nam Cao

Chí Phèo không phải là người cùng thời với Nam Cao. Đó là một nhân vật truyền thuyết của làng. Ngày xưa có một anh Chí Phèo, làm nghề mổ lợn, giỏi bắt phèo nên người ta gọi là Chí Phèo. Anh ta thường uống rượu say, đi trên đường làng, chửi trời chửi đất lung tung. 

Vậy là nhân vật Chí Phèo hư cấu.


Còn Thị Nở có người nói có, có người nói không. 

Cô Hồng, con Nam Cao, thì nói dứt khoát: “Ông ấy bịa”.

(Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh)


Giai thoại về Lãng Nhân Phùng Tất Đắc 

Bút danh của Lãng Nhân, rất đặc biệt: Lãng Nhân là phiên âm một từ ngữ Nhật Bản: Ronin, có nghĩa là một samurai mất chủ, đi lang bạt. 

Tôi nghĩ có lẽ lúc chọn bút danh cho nghề văn, ông đã có khí tiết của một samurai mất chủ, mang tinh thần võ sĩ đạo Nhật Bản đi lang bạt kỳ hồ. Lãng Nhân từng xuống tàu của Bạch Thái Bưởi ở Hải Phòng, định vượt biển. Thân phụ ông biết tin, buộc ông trở lại quê nhà. Lãng Nhân bắt đầu làm báo khi Hoàng Tích Chu chủ trương Nhật báo Đông Tây. Rồi cộng tác với các Tuần báo Ích Hữu, Tiểu Thuyết Thứ Bảy… 

(Nguyễn Đạt)



Góp nhặt cát đá bên đàng

Có nguồn cho là tên nước Việt Nam có từ đời Trân, đời Lê. Lý do có ngộ nhân này vì chữ Tàu không viết hoa 2 chữ "Việt Nam". Mà là “việt nam”, thế nên với Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi, người sau nên hiểu theo chữ quốc ngữ là đất đai phía nam đất Việt


Còn Hồ Tông Thốc viết Việt Nam Thế Chí thì tạm hiểu là sách ghi chép các đời vua phía nam đất Việt. Vì rằng các vua triều Lý (1010-1225), Trần (1226-1400), và Lê (1428-1527) rõ ra tên nước ta là Đại Việt.


Những ca từ “khó hiểu” trong 8 ca khúc của Trịng Công Sơn

7. Dấu Chân Địa Đàng

Bài hát Dấu Chân Địa Đàng, ban đầu có tên là Tiếng Hát Dạ Lan, được TCS viết trong thời gian ông dạy học ở B’Lao, Lâm Đồng. Trong bài này có hình ảnh ẩn dụ vô cùng khó hiểu như “loài sâu ngủ quên trong tóc chiều”, “lời ca dạ lan”… 

May quá, những hình ảnh đó sẽ được chính tay tác giả giải thích, nếu bạn đọc được cuốn Thư Tình Gửi Một Người. Khi hiểu được những ca từ này, người nghe sẽ thấy bài hát sẽ trở nên hay hơn. Loài sâu này chính là một phiên bản khác của phận người, ôm chất chứa những buồn vui của nhân sinh, điều này càng được thấy rõ hơn trong những bức thư của TCS gửi Dao Ánh: “Ngôn ngữ đã mất đi với những ngày nằm co như một loài-sâu-chiếu ở Blao” (thư Đà Lạt, 19.9.1964), “Ở đây cũng có loài sâu đất reo đêm” (thư Đà Lạt, 19.9.1964), “Đêm sáng mờ bên ngoài. Sâu đất reo rất trong ở bãi cỏ” (thư Blao, 23.10.1964), “Đêm đã lạnh và đã buồn. Cây cỏ lao xao. Anh chỉ còn nghe rõ tiếng sâu đất và tiếng dế reo…” (thư Blao, 29.12.1964), “Đêm rất dày đen. Sâu đất của núi rừng cũng đã reo lên âm thanh rất nhọn” (thư Blao, 23.9.1965). 


Hình ảnh “dạ lan” cũng được nhắc tới trong bài này: “Nửa đêm đó lời ca dạ lan như ngại ngùng”. Dạ lan là gì? Nhà cô gái 16 tuổi Dao Ánh ở Huế (cách nhà TCS ở Huế một cây cầu là cầu Phú Cam) trồng nhiều hoa dạ lan và loài hoa này không chỉ thơm ngát trong vườn nhà Dao Ánh mà còn lừng hương trong nhạc Trịnh và trong nhiều bức thư tình tha thiết, da diết của TCS gửi Dao Ánh: “Dạ lan giờ này chắc đã ngạt ngào cả một vùng tối đó rồi, đã cài lên từng sợi tóc của Ánh” (thư Blao, 31.12.1964), “Anh ao ước bây giờ mở cửa ra bỗng dưng có chiếc cầu bắc qua dòng sông và anh bước qua cầu rồi rẽ về phía tay phải đi đến căn nhà có mùi thơm dạ lan và đứng đó gọi tên Ánh thật thầm để chỉ vừa đủ Ánh nghe”(thư Blao, 26.9.1965). 


Dĩ nhiên, “dạ lan” trong vùng kỷ niệm của TCS cũng như trong nhạc Trịnh, là hiện thân của vẻ đẹp và tình yêu thầm kín, thanh tao, thắm thiết của Dao Ánh, là biểu tượng, là hiện thân của cõi “địa đàng”, cõi “Thiên Thai”, cõi mơ ước hạnh phúc bất tuyệt muôn đời của nhân loại: “Mưa đã trở về cùng với đêm. Như một ngày nào Ánh rời xa anh để trở về với nếp sống bình thường, ở đó Ánh đi trên lối đi quen thuộc của những người đã đi trước mà không cần phải nhìn những bảng số hai bên đường. Sẽ bình thường và thản nhiên quên đã một lần dẫm chân qua một vực-thẳm địa đàng mà anh đã linh cảm trước từ lâu, như “địa đàng còn in dấu chân bước quên” của một thời anh đã âm thầm nghĩ rằng biết đâu Ánh không lớn lên từ một loài dạ lan nào đó” (thư Blao, 27.10.1964), “Bây giờ là tiếng nói đêm của anh với Ánh. Với Ánh dạ lan… ” (thư Blao, 22.11.1964).

(Nguyễn Mậu Nhân – Sai Gon xua)


Tiệm nước

Tiếng Quảng Ðông là ‘chà thỏi’ (bàn nhỏ uống trà), ông bà mình kêu là tiệm nước. Tiệm nước không bán nước. Tiệm nước không bán trà. Tiệm nước bán cà phê, hủ tiếu mì, sáng, trưa, chiều, tối.


(tiệm ‘Bảy Mập’ ngã tư Cao Thắng và Phan Thanh Giản) 


Gần khu dân cư lao động chằng chịt biết bao nhiêu cái xuỵt (sur: trên), tiệm nước đóng đô ở vị trí thuận tiện nằm ở ngã tư đường. Tiệm nước người Việt rất ít; đa số là của các chú Ba Tàu. 

(Đoàn Xuân Thu)


***


Phụ đính

 

Ký ức gặp cụ Nguyễn Văn Tố năm 1947 (1)


(cụ Nguyễn Văn Tố)

Nguyen Van To


Tôi tản cư đến Thụt. Những ngày tốt trời, tôi đi vào các làng người Thổ, người Mán chơi, nhân thể khảo cứu về nhân sinh địa-lý. Một hôm khoảng Tháng Tư, Tháng Năm, năm 1946, ông chủ nhà trọ có cho tôi biết là có cụ Nguyễn-văn-Tố qua đây và ngủ lại đêm ở nhà thôn trưởng.

Sau đấy tôi tìm gặp cụ, cả hai gồi dưới gốc cây đa cổ thụ, nhìn nước sông Lô đỏ ngầu những phù sa, cuồn cuộn chảy xuôi. Nghe tiếng thác ầm ầm gần đấy, nhìn lên thượng nguồn thấy núi non trùng trùng điệp điệp. Trên trời lơ lửng mây đen mây trắng, hai chúng tôi, một già một trẻ ngồi lặng yên suy nghĩ.

Hồi lâu, tôi lên tiếng:
– Ý kiến cụ về cuộc kháng chiến này của ta như thế nào ?
– Ấy, tôi cũng định hỏi ý kiến của ông.

(nguồn: Cố học giả Nguyễn Thiệu Lâu)


Nhớ Phùng Quán

Nghe Phùng Quán kể lại, lần anh ghé về quê, qua Huế, một bằng hữu mời cả đám bạn bè về ngôi nhà vườn bên bờ Bao Vinh êm ả. Anh muốn trổ tài nấu ốc bung theo kiểu Hà Thành. 

Lại chợ búa, ốc bưu, tía tô cùng chuối chát. Sau chầu rượu, anh xắn tay áo ra bếp cạnh bờ nước, chẳng may gặp ngay cụ bà, mẹ người bạn. Cụ thấy chậu ốc ngâm nước gạo trên tay anh, vội giật lấy kêu lên, không được sát sinh, vừa niệm nam mô cụ vừa hất luôn chậu ốc xuống sông. Anh ngẩn người, chẳng dám nói gì, nhăn nhó, dở khóc dở cười.

(Mai Ninh)


Ký ức gặp cụ Nguyễn Văn Tố năm 1947 (2)

Chúng tôi lại ngồi im, mãi lúc sau cụ mới nói:
– Cuộc kháng chiến này sẽ kéo dài lâu lắm vì thực dân Pháp ngu. Dân ta sẽ khốn khổ với chúng, nhưng chúng sẽ không tái lập được cuộc đô hộ đâu. Nườc họ đã kiệt quệ vì chiến tranh với Đức, họ sẽ chết vì chiến tranh ở thuộc địa. Rồi ông xem, nước Pháp sẽ tụt xuống hàng nước Y-Pha-Nho, Á-châu sẽ mạnh. Trung-Hoa và Ấn-Độ sẽ phục hưng một cách nhanh chóng.
– Thế còn Nhật?
– Nhật sẽ phục hưng được nhưng không một dân tộc Á Châu nào ưa họ đâu. Họ thâm độc lắm.
– Còn nước ta ?
– Ấy, quan tha thời ma bắt, chúng ta sẽ độc lập bề ngoài mà thôi. Quốc tế sẽ công nhận sự độc lập ấy. Nhưng trong nước sẽ lục đục, có thể bị chia đôi. Ông có nhớ mấy khoản của hiệp ước Postdam không? Gây ra Nam Bắc phân tranh mới rầy đấy. Nước nhà sẽ kiệt quệ, người Việt sẽ giết người Việt như ngóe ấy. Chỉ khổ cho lũ trẻ mà thôi. Lắm lúc tôi nghĩ buồn lắm. Suốt đời ăn hại. Chẳng biết chết rồi (1), về gặp ông bà ông vải, tôi biết ăn nói làm sao với các cụ? 

Nhưng thôi, nghĩ vẩn nghĩ vơ làm gì. Đời tôi thời bỏ đi rồi. Ông còn trẻ, cố mà sống. Ông sẽ có ngày được nhìn thấy đất nước tươi đẹp. Nhưng tôi cũng khuyên ông mấy câu. Đừng sợ khủng bố, chớ ham danh lợi, phụng sự nước đi. Nếu không phụng sự được nước vì bất tài thời phụng sự văn học. Ông có một căn bản văn-hóa*, bỏ đi không những là phí mà lại có tội, có tội với ông. Thôi, anh em chúng ta về. “

(nguồn: Cố học giả Nguyễn Thiệu Lâu)


(1) Theo học giả Nguyễn Thiệu Lâu, tuần sau, cụ Nguyễn Văn Tố bị Pháp bắt và bắn ở bìa rừng bản Nà Pèn, Việt Bắc.
































Không có nhận xét nào: