Thứ Bảy, 25 tháng 4, 2026

Đời Thủy Thủ III - Vũ Thất / CHƯƠNG 41: ĐƯỜNG ĐẾN TRƯỜNG SA

                                  

Đời Thủy Thủ III - Vũ Thất 

CHƯƠNG 41: ĐƯỜNG ĐẾN TRƯỜNG SA

Vào buổi sáng mùa hè đẹp trời.
Một công điện thượng khẩn từ Bộ Tư Lệnh Hạm Đội gửi cho Trợ Chiến Hạm Rạch Gầm như tiếng sét giáng thẳng vào đầu Võ Bằng. Anh đọc đi đọc lại ba lần. Tờ giấy mỏng mà nặng như chì. Lưng rịn mồ hôi.
“Quý chiến hạm được biệt phái khẩn cho Bộ Tư Lệnh Vùng 3 Duyên Hải. Yêu cầu trang bị tối đa dầu, nước, đạn dược, thực phẩm và khởi hành trong vòng 24 tiếng. Báo cáo nhận hành.”
Anh buông tờ công điện, đứng dậy, rồi lại ngồi xuống. Tay anh bất giác kéo hộc bàn. Anh mở chiếc hộp nhung đỏ. Chiếc nhẫn đính hôn, đôi bông tai hột xoàn óng ánh như trêu ngươi. Anh mở bóp. Nụ cười của Như Oanh trong ảnh rạng rỡ. Anh đập mạnh tay xuống mặt bàn. Chỉ còn bảy ngày. Bảy ngày nữa là lễ hỏi. Mọi việc đã chuẩn bị xong…

Anh hối hả cỡi Vespa vào Bộ Tư Lệnh Hạm Đội, gặp Chỉ Huy Trưởng Hải Đội. Lời xin hoãn công tác nói ra nhanh, gọn nhưng chạm bức tường bê tông cốt sắt. Trung Tá đáp lời nhanh gọn không kém:
– Thông cảm nhưng rất tiếc! Chiến trường đang cần.
Trở về tàu, Võ Bằng cho họp sĩ quan. Buổi họp phân công và thời gian về báo gia đình kết thúc trong sự im lặng nặng nề, như sóng ngầm dưới lòng biển sâu. Từng người đứng dậy, chào, bước ra. Không có tiếng đùa. Không một câu hỏi.
Ai cũng mang nặng công việc phải làm cho kịp giờ khởi hành.

Buổi chiều, anh phóng xe ra Bưu Điện gửi điện tín về quê báo tin cho ba má. Xong, anh đến trường đón Như Oanh.
Nàng bước ra cổng, thấy anh, nụ cười vừa chớm thì dừng lại. Có cái gì đó trên gương mặt anh khiến nàng bất an.
Nàng băng vội qua đường, hỏi dồn:
– Chuyện gì vậy anh?
– Tàu phải đi công tác bất thường. Ngày mai.
Nàng cúi đầu. Những ngón tay siết chặt cặp sách.
Một lúc rất lâu. Khi ngẩng lên, mắt nàng đỏ hoe, giọng nghẹn ngào:
– Không chỉ hoãn lễ hỏi… mà suốt mùa hè này… em cũng không có anh.
Võ Bằng gượng cười. Một nụ cười cam chịu:
– Đời hải hồ mà… Ráng tập quen đi em.
Câu giả lả chỉ làm đôi mắt nàng thêm long lanh.
Khi ba mẹ Như Oanh về, nghe tin, ông bà buồn xo. Giọng ông đều đều:
– Quân lệnh trên hết. Chỉ chậm vài tháng thôi.

Buổi sáng khởi hành, Cố vấn Mỹ tháp tùng chuyến đi.
Đến Vũng Tàu, cả hai vào Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng 3 Duyên Hải dự buổi họp hành quân. Bản đồ trên tường đầy những chấm đen kèm tên của các đảo Trường Sa.
Thiếu Tá Trưởng Phòng di chuyển đầu que vào vùng phía nam:
– Đây là khu vực có nhiều tàu lạ xuất hiện. Ảnh không tuần cho thấy hai tàu không cờ, không số, chở đông người… có thể đổ bộ chiếm đảo.
Không ai lên tiếng. Không khí đặc lại.
– Hiện chiếc tuần duyên hạm Sinh Tồn, HQ 631 đang tuần phòng vùng này. Nhiệm vụ của Rạch Gầm là tăng cường, phối hợp ngăn chận.
Thiếu Tá thu hồi que nhôm, cao giọng:
– Nếu vi phạm lãnh hải: Cảnh cáo bằng loa rồi bằng súng. Không tuân lệnh: được phép triệt hạ.
Không ai hỏi thêm. Cố Vấn Mỹ ghi chép.

***

Mười giờ, Rạch Gầm rời cầu Cát Lỡ trực chỉ Trường Sa.
Gió mùa tây-nam: sóng xuôi, gió xuôi.
Ra khỏi mũi Nghinh Phong, Võ Bằng giao phiên cho Thiếu Úy Đức, xuống buồng.
Buổi trưa, sau bữa ăn, anh đi một vòng kiểm tra tàu. Tình trạng an toàn tốt. Mọi thứ gọn gàng. Sẵn sàng.
Trở về buồng, anh ngồi viết thư cho Như Oanh. Rồi gửi ngay khi ghé bến.
Chắc nàng đang chờ. Như anh đang chờ.
Anh ngủ một giấc dài.

Chiều xuống. Chuông điện thoại reo. Anh nhấc máy:
– Thưa Hạm Trưởng, phía trước có nhiều tàu đánh cá.
– Tôi lên ngay.
Võ Bằng bước nhanh lên đài chỉ huy. Vừa đi vừa nghĩ: “Tàu tập trung ở Trường Sa? Không thể! Sớm nhất trưa mai mới tới.”
Anh nâng ống dòm. Một dải đất mờ ở hướng 11 giờ.
Anh hỏi sĩ quan đương phiên:
– Có phải Poulo Cecir de Mer không?
– Thưa phải.
– Anh biết tên Việt của đảo?
– Thưa… không rõ.
Võ Bằng khẽ cười:
– Đảo Phú Quý. Cũng gọi là Cù Lao Thu.
Trung Úy Tuấn quay lại:
– Thưa Hạm Trưởng, sao lại hai tên?
– Poulo… từ tiếng pulau của Mã Lai – nghĩa là đảo. Dân mình lúc dịch là “đảo”, lúc giữ âm thành “cù lao”.

Anh dừng một chút:
– Cù Lao Thu là tên cũ. Do có nhiều cá thu quanh đảo. Năm 1844, vua Thiệu Trị đặt tên Phú Quý… vì thấy nơi này sẽ sang giàu.
Trung Úy Tuấn gật gù. Cố Vấn Mỹ đứng cạnh, lắng nghe, hơi bối rối.
Võ Bằng quay sang:
– You follow?
Bill cười:
– Chút chút… but interesting.
Trung Úy Tuấn lại hỏi:
– Thưa Hạm Trưởng, còn ‘hòn’ và ‘cồn’, khác nhau thế nào?
Võ Bằng nói thật chậm, hy vọng cố vấn hiểu:
– Hòn là đảo nhỏ ngoài biển. Chỉ riêng quanh đảo Phú Quý, ta có các Hòn Tranh, Hòn Đen, Hòn Đỏ, Hòn Giữa…
Anh dừng lại, nhíu mày, rồi tiếp:
– Và một hòn, tên gọi Hòn Tro, có ‘hành động’ kỳ lạ là vào năm 1923 đột nhiên nhô cao ba mươi mét rồi ba tháng sau lại chìm mất. Sau đó có lời cảnh giác của nhà làm hải đồ: “Vì nhiều địa chấn trong vùng, cần thận trọng khi hải hành. Lời cảnh giác này cũng áp dụng cho vùng Trường Sa, Hoàng Sa.”
Thiếu Úy Lũy thè lưỡi:
– Nghe mà ớn! Võ Bằng giải thích tiếp:
– Còn cồn là bãi đất nổi giữa sông do phù sa hay cát tích tụ. Như miền tây có ‘tứ linh cồn’: Cồn Long – Lân – Quy – Phụng cùng nằm ven sông Tiền. Trong đó Cồn Phụng nổi tiếng nhất.
– Thưa, sao được nổi tiếng?
– Vì là Thánh địa của ông Đạo Dừa. Nhưng nổi tiếng rồi… mất tiếng. Từ khi là thánh địa, Cồn Phụng mang tên mới: Cù lao Đạo Dừa.
Trung Sĩ Huân than thở:
– Lung tung, khó nhớ quá!
Võ Bằng cười:
– Hòn và cồn cũng bị dùng lẫn lộn. Như lần ra bắc vừa rồi, qua vĩ tuyến mười bảy, chúng ta gặp một đảo nhỏ có tên Cồn Cỏ.
– Thưa Hạm Trưởng, đảo Phú Quý có sản phẩm gì có thể thành phú quý?
– Trên đảo, người đông nhưng không có sản phẩm gì đắt giá. Nổi bật là ba kiến trúc tâm linh cổ kính, uy nghi. Một là Bảo Tháp Chùa Linh Quang chín tầng, trên ba trăm năm. Hai là đền thờ Công chúa Bàn Tranh bị vua Chàm đày biệt xứ khi dám từ chối làm vợ người do vua chọn. Thuyền của bà giạt vào đảo này. Bà lập nghiệp và giúp dân. Sau khi bà mất, dân trên đảo lập miếu thờ, tôn xưng Bà Chúa Đảo.

Võ Bằng dừng lại, theo dõi Trung Úy Tuấn ra lệnh luồn lách tránh ghe. Khi chiến hạm trên hải trình an toàn, anh tiếp:
– Kiến trúc thứ ba từ thế kỷ mười tám là Lăng Vạn An Thạnh, nơi thờ Ông Nam Hải, vị Thần biển Nam hộ mệnh ngư dân. Mỗi khi thấy xác cá ông tấp vào là dân đảo cử hành trọng thể nghi lễ an táng. Đến nay lăng lưu giữ hơn một trăm bộ xương, bộ dài nhất là hai mươi mét.
Bất chợt, mặt biển phía trước nổ tung. Một cột nước trắng xóa bung lên. Một thân cá voi vọt khỏi mặt biển. Ánh nắng chiều vỡ thành các hạt nước tung tóe lấp lánh như kim cương. Thân cá uốn éo như chào mừng chiến hạm. Hay như ngăn cản chiến hạm tiến tới?
Mọi người đứng lặng. Tiếng máy tàu nhỏ đi như tránh khuynh động giây phút lạ thường.
Võ Bằng thầm van vái:
– Xin Ngài Nam Hải phù hộ chúng con bình an.

***

Mặt trời lặn rất nhanh. Vùng trời đỏ, rồi tím, rồi xám, rồi đen tối.
Trăng lên, không tròn nhưng đủ cho biển lấp lánh. Những gợn sóng mang viền bạc mỏng.
Trung Úy Tài nhấp một ngụm cà phê nguội rồi lẩm bẩm:
– Biển đêm… lúc nào cũng khác.
Trung Sĩ Huân hỏi:
– Khác thế nào, Trung Úy?
– Khó nói!
Một quan sát viên quay lại, cười cười:
– Chắc khác với biển gần bờ?
Trung Úy Tài lắc đầu:
– Không. Nó… mênh mông hơn và… hoang vu!
Hạm Phó Tiến hiện diện từ bao giờ, lên tiếng:
– Đang có trăng mà.
Trung Úy Tài nhìn xa xa:
– Chính ánh sáng lờ mờ đó… làm cho nó hoang vu.
Võ Bằng gật đầu:
– Tôi đồng ý.
Nói xong anh ngồi tựa đầu vào lưng ghế. Đài chỉ huy như hoang vu một lúc lâu.

Trung Úy Tài ngập ngừng lên tiếng.
– Thưa Hạm Trưởng, trên hải đồ ghi là Spratly Islands, mình gọi là Trường Sa. Xem ra chả có dây mơ rễ má gì với nhau! Vì đâu nên nỗi?
Võ Bằng định chịu bí thì Hạm Phó Tiến cứu bồ:
– Tôi được nghe ông cựu Hạm Trưởng giải thích như sau. Người Việt khai phá vùng hàng trăm đảo và bãi cát này từ thế kỷ 17, nên đặt tên Trường Sa. Đến thế kỷ 19, thuyền trưởng tàu săn cá voi Richard Spratley đến vùng này, đặt tên theo họ của mình.
Trung Úy Tài reo lên:
– Cám ơn Hạm Phó.
Võ Bằng vui vẻ tiếp lời:
– Từ thời Minh Mạng, đã có dựng bia chủ quyền: Vạn Lý Trường Sa. Đến thời Việt Nam Cộng Hòa, ta tiếp tục khẳng định chủ quyền, dựng bia mới và xây trạm khí tượng trên một đảo tương đối lớn, gọi Trường Sa Lớn.
Trung Sĩ Huân bật cười:
– Trường Sa Lớn mà lại tương đối lớn?
Võ Bằng trầm giọng:
– Vì đảo lớn nhất, đảo Ba Bình bị Đài Loan chiếm khi Việt Nam ở vào thời buổi chia cắt đất nước. Đảo Thị Tứ lớn thứ nhì thì bị Phi Luật Tân chiếm.
Hạm Phó Tiến nhăn mặt:
– Sao mình không đánh lấy lại những đảo đã mất?
– Nhiều tế nhị về mặt chính trị.
– Nếu sợ như vậy, họ chiếm thêm thì sao?
Võ Bằng mỉm cười:
– Các đảo quan trọng đã có quân phòng thủ. Các đảo nhỏ và các bãi còn lại do Hải Quân bảo vệ. Đó là lý do hôm nay chúng ta… ra đi khi trời vừa sáng.

***

Trăng lên cao hơn. Mặt biển sáng hơn. Những gợn sóng lấp lánh.
Chiến hạm chạy đều. Mũi tàu rẽ nước êm. Thân tàu rung nhẹ theo nhịp máy, quen đến mức không ai còn để ý.
Phiên trực im lặng. Mỗi người đứng đúng vị trí của mình. Nhưng tâm trí có lẽ đang về với người thân, người yêu. Như Võ Bằng đang nhớ từng lọn tóc mai, từng nụ cười, nốt ruồi son trên má Như Oanh…
Anh ngẩng lên. Trời đầy sao. Không gian yên tĩnh đến mức… như không có thật.
Anh chợt thấy đời mình lạ lùng. Từ một học sinh quê mùa trở thành Hạm Trưởng.
Những người quanh anh, đủ hạng. Thầy giáo. Nông dân. Thợ điện. Sinh viên.
Tất cả đứng đây – giữa biển. Biển im lìm tiếp nhận. Cái im lặng không phải bình yên mà là ẩn giấu.

Một ký ức chợt hiện. Bên hồ sen Đồng Quê Quán. Như Oanh ngồi đó. Cười và nói. Và bước vào đời anh bằng niềm tin vững chắc. Niềm tin vào một tương lai… không chắc chắn.
Anh đặt bàn tay lên túi áo. Mẩu giấy nhỏ nàng viết khi chia tay, anh đã thuộc làu: “Anh đi bình an. Em không khóc, chỉ sợ… Đừng bỏ em một mình.”
Tiếng Thiếu Úy Lũy đột ngột vang lên:
– Thưa Hạm Trưởng, có ánh đèn phía mũi, mạn phải!
Võ Bằng nâng ống nhòm. Biển đêm trải dài. Một đốm sáng. Rồi tắt. Rồi một chấm sáng khác lóe lên. Biển lại tối. Im lặng. Biến cố lớn có khi từ một điểm sáng nhỏ.
Võ Bằng bảo Thiếu Úy Lũy:
– Hỏi phòng CIC có thấy đối vật hướng một giờ?
Tiếng lặp lại vào loa. Rồi có tiếng đáp:
– Radar không thấy echo.
Rạch Gầm vẫn tiến đều trên biển nước mênh mông.
Mỗi hải lý như đi sâu hơn vào cái bẫy vô hình của định mệnh…

Vũ Thất

(Còn tiếp)








Không có nhận xét nào: