Đời Thủy Thủ 1
Chương 13: ĐÊM THÀNH TUY HẠ
Chiếc Hải Vận Hạm Hàm Luông ủi bãi ở khoảng giữa một khúc quanh của con sông mang tên Sâu, phụ lưu của sông Đồng Nai. Tuy là phụ lưu nhưng rất sâu, tàu dễ dàng gác mũi lên bờ. Bãi ủi này là nơi tiếp nhận vũ khí đạn dược từ Hoa Kỳ nhập tổng kho Thành Tuy Hạ, cũng là nơi phân phối bom đạn cho bốn vùng chiến thuật.
Theo lời Hạm Trưởng, Thành Tuy Hạ vốn là một làng của tổng Thành Tuy, phủ Nhơn Trạch, tỉnh Biên Hòa, có từ hồi vua Gia Long chia tổng này thành ba làng Thượng, Trung, Hạ. Năm 1929, Pháp xây tại đây một kho đạn kiên cố. Về sau Mỹ mở rộng thành hàng trăm nhà kho với sức chứa hàng trăm ngàn tấn, vòng rào có chiến hào, hàng chục lớp kẽm gai, hàng chục trạm gác và một tiểu đoàn bảo vệ.
Từ lòng tàu nhìn xuyên qua cửa đổ bộ, tôi chỉ thấy một bãi lài lót đá dẫn lên con lộ tráng nhựa. Hai bên đường lưa thưa vài căn nhà gạch, vài mái tôn thấp, vài hàng cây bụi. Một con chó vàng nằm ngủ giữa trưa. Kho đạn khổng lồ nằm ngoài tầm mắt.
Vậy mà chỉ năm mười phút sau khi cửa đổ bộ mở ra, từng đoàn xe GMC chở đầy các loại đạn lần lượt chạy thẳng xuống tàu. Mỗi lần bánh xe nghiến qua mép cửa, thân tàu rùng mình một cái. Suốt buổi, con tàu cứ lún dần xuống, lặng lẽ, như một người quen gánh nặng mà không hề than. Số bom đạn ấy sẽ được chở ra Nha Trang, tiếp tế Quân khu 2.
Cái tin đi công tác Nha Trang mang đến cho tôi một cảm xúc khác hẳn hai lần trước. Không lo lắng, không ưu tư, mà là một nỗi nôn nao, bồi hồi khó tả.
Nha Trang là nơi tôi có dịp sống nhiều năm, vào cái tuổi phá xóm phá làng. Từ một cậu bé miệt vườn miền Tây, nhờ ông anh theo đời quân ngũ rày đây mai đó, tôi được biết Sài Gòn qua ba năm trung học, rồi Nha Trang bốn năm, kế tiếp hai năm quân trường. Cộng lại, tôi chưa ở đâu quá bốn năm. Tôi lớn lên như một thứ cây không kịp bén rễ bất cứ chỗ nào.
Bốn năm Nha Trang là tình đầu với Bạch Tuyết, rồi chia tay. Hai năm quân trường là tình cuối với Thụy Hồng, rồi cũng xa cách. Tuyết thì vừa gặp lại, không nhiều thiết tha. Còn với Hồng?
Ba tháng qua, tôi không viết cho Hồng một lá thư nào.
Không phải tôi không định viết. Đã một lần tôi trải tờ giấy pelure lên mặt bàn, viết được hai chữ “Hồng thương”, rồi thừ người nhìn hai chữ đó. Thương mà sao cứ lơ mơ nghĩ đến người con gái khác? Cuối cùng tôi xếp tờ giấy làm tư, nhét vào cuốn sổ tay, hẹn sẽ viết khi dứt khoát với Hiền. Nó còn nằm đó tới bây giờ.
Cạnh nó là lá thư cuối cùng của Hồng. Nàng có thói quen đánh số thư ở góc trên, bên phải, bằng mực tím, chữ nhỏ xíu. Lá thư đó mang số hai mươi bảy. Sau một tháng không nhận được thư tôi, nàng cũng ngưng viết. Hai tháng nay không có số hai mươi tám. Tôi phải nghĩ thế nào?
Nhà nàng nằm trên một con đường yên tĩnh, cổng sắt thấp, giàn bông giấy đổ xuống một bên trụ. Mỗi lần tôi từ giã, nàng đứng ở cổng, không vẫy tay, cứ đứng vậy cho tới khi tôi đi khuất. Có lần tôi ngoái lại ba bận, và bận nào cũng thấy nàng còn đó. Hôm nghe tin tôi ra trường, sắp xuống tàu, nàng không khóc, không hỏi bao lâu gặp lại, mà chỉ nói rất nhẹ: “Đi tàu chắc bận lắm hả anh?” Lúc đó tôi tưởng là câu hỏi han thường tình. Bây giờ nghe ra, tôi mới hiểu đó là một lời báo trước — nàng đã lường sẵn cái cớ mà tôi sẽ dùng.
Vậy, có nên dùng cái cớ ấy khi gặp lại không? Nhưng chắc gì nàng còn muốn gặp. Biết đâu trong ba tháng tôi im lặng, đã có một người khác biết viết thư đều đặn và biết có mặt đúng lúc hơn tôi. Ý nghĩ đó làm ngực tôi nhói đau – và bỗng giật mình: hóa ra mình đang ghen. Mà còn ghen nghĩa là vẫn còn yêu. Hoặc ít ra, tình yêu chưa kịp chấm hết.
Nếu gặp, điều tôi ngại nhất không phải lời trách móc. Trách móc còn là dấu hiệu người ta chưa buông. Tôi sợ thái độ dửng dưng, lạnh lùng. Càng sợ cái nhìn lịch sự, cử chỉ lễ phép của một người đã thật sự đặt tôi ra khỏi đời nàng – lễ phép như đối với một người khách lạ ghé xin miếng nước rồi đi.
Thực sự, tôi có còn yêu Hồng không? Tôi nghiệm ra mình là thứ người dễ yêu khi gần, dễ quên khi xa. Quá đúng câu xa mặt cách lòng. Bây giờ sắp trở lại Nha Trang, tình yêu xem chừng trở lại theo. Tôi đang ở trên tàu. Tàu quay mũi về hướng đó thì làm sao tôi quay sang hướng khác!
Với lòng nôn nao, ngày trở nên quá dài. Buổi trưa, không ngủ được, tôi lang thang trên sân tàu. Nắng giội xuống mặt sắt, hơi nóng hắt ngược lên tận mặt. Tôi lấy súng của nhân viên canh phòng, nhắm bắn những đám lục bình trôi lững lờ. Hết bắn lục bình, lại ném lựu đạn áp suất. Nước dội lên trắng xóa, rồi khép lại, phẳng lì, như chưa hề có chuyện gì xảy ra. Tôi bắn không phải vì nhiệm vụ mà để cái nôn nao trong lòng có chỗ trút ra ngoài, lại được an ủi là không phí đạn vô ích.
Trong thời chiến, lục bình không còn là lục bình, thứ hoa tím vô hại trong mấy câu hò. Lục bình không có rễ bám đất. Nó trôi tới đâu hay tới đó, gặp bờ thì tấp vào, gặp con nước lớn lại đi. Nhìn thì đẹp và hiền, nhưng bên dưới đám hoa tím ấy có thể là tử thần. Một đám lục bình dễ dàng che giấu một trái mìn từ trường, gặp vỏ sắt chiến hạm, ngòi nổ kích hoạt. Cũng có thể đặc công thủy ẩn bên dưới, lặng lẽ bơi đến gắn mìn thời chỉnh. Chỉ một sơ hở canh phòng, cả người lẫn tàu đều tan như xác pháo.
Ngày như đêm, Thành Tuy Hạ im lắng, lặng lờ, buồn chán. Một thứ im lặng kỳ lạ: sau những mái tôn thấp kia là hàng trăm ngàn tấn thuốc nổ, vậy mà cả vùng cứ ngủ gà ngủ gật dưới nắng. Hình như những gì chứa sức tàn phá lớn nhất đều biết cách nằm thật yên. Tôi có nôn nao đến đâu thì cũng phải hai ngày nữa mới hy vọng gặp lại Thụy Hồng.
Sau cơm tối, Hạm Trưởng rút vào buồng riêng. Hạm Phó cùng ba sĩ quan Hải, Được, Tâm ngồi chơi bài belote. Tôi ngồi cạnh Tâm học cách chơi. Nhưng là sĩ quan trực, cứ độ mười lăm, hai mươi phút tôi lại leo lên lòng tàu, đi một vòng kiểm soát trực gác rồi ra cửa đổ bộ xem mực nước thủy triều.
Khi nước lớn, tàu phải tiến tới để cửa đổ bộ bám mép bờ, không thì xe lên xuống dễ làm đứt cáp treo. Khi nước ròng, tàu phải lùi ra. Sơ suất một con nước, tàu có thể mắc cạn trọn ngày. Dân tàu thuyền sợ sông hơn sợ biển, bởi biển dữ ra mặt, còn sông thì thâm trầm. Với người cũng vậy. Người giận dữ ra mặt thì còn dễ ứng xử. Người im lặng mới đáng sợ.
Tôi ra đứng sau lái. Lái tàu chiếm gần nửa con sông. Trăng chưa lên nên trời tối mịt. Những con đom đóm lập lòe quanh chiến hạm như những đốm lửa lạc loài – thứ lửa nhỏ nhất, hiền nhất, thản nhiên đậu trên một kho thuốc nổ khổng lồ mà không hay biết. Bên kia bờ, ban ngày là đồng ruộng thênh thang, giờ chỉ còn một vùng đen thẫm, im lìm. Đành rằng có tiền đồn, nhưng địch vẫn có thể pháo kích hàng chục quả trước khi rút lui. Nếu chiến hạm bị pháo kích? Tôi không dám nghĩ thêm.
Trên tháp canh, ngọn đèn pha bỗng quét một vệt dài xuống mặt sông, dừng lại ở một mảng đen đang trôi xuôi. Người lính gác lên đạn, tiếng cơ bẩm khô khốc trong đêm. Rồi trong quầng đèn hiện ra mấy cụm lá xanh và một chùm hoa tím nhạt. Lục bình. Một tràng đại liên nổ giòn. Chỉ là lục bình. Đèn tắt. Tôi đứng lặng, nghe rõ tim mình đập thùm thụp.
Đang nghĩ lan man, tôi được anh chiêu đãi lên báo Hạm Trưởng mời họp. Họp gì giờ này? Chắc ông vừa làm xong một bài thơ và muốn nghe lời bình Mao Tôn Cương? Đã vài lần, thấy tôi còn đọc sách lúc nửa đêm, ông ngồi vào ghế, cầm mảnh giấy ngâm trọn bài thơ rồi yêu cầu tôi góp ý. Chúng tôi khá tương đắc trong chuyện văn chương. Đời lính, thỉnh thoảng cũng rất nên sáng tác hay thưởng thức vài câu thơ, để vịn vào cho đỡ… héo lòng.
Nhưng lần này không phải vậy. Hạm Trưởng đã ngồi sẵn ở chiếc ghế riêng, ngón tay gõ nhẹ lên thành ghế theo một nhịp đôi – cái nhịp của những lúc ông khoái chí. Chung quanh, các sĩ quan hiện diện đông đủ. Tôi ngồi vào chỗ của mình, đối diện ông, lòng băn khoăn. Tập họp đông đủ thế này, hẳn có chuyện quan trọng.
Hạm Trưởng nhìn quanh một lượt, rồi tươi cười:
– Hôm nay tôi tình cờ khám phá ra một sự kiện thú vị. Thứ Bảy cuối tuần này là đúng một năm chiến hạm được chuyển giao.
Mọi người ngơ ngác nhìn nhau. Ông chậm rãi:
– Nghĩa là đã đến lúc tổ chức lễ Đệ Nhất Chu Niên. Địa điểm, thời điểm đều thích hợp: tàu ủi bãi gần quân trường Hải Quân, lại nhằm cuối tuần. Khuya nay khởi hành, thứ năm tới nơi, bốc dỡ trong ngày. Tối Thứ Bảy khai mạc dạ tiệc. Các anh thấy sao?
Ánh mắt ai cũng sáng lên. Không khí trong phòng rộn ràng hẳn, như vừa mở toang một cánh cửa sổ.
Hạm Phó Đắc lên tiếng:
– Quá đẹp, thưa Hạm Trưởng! Cũng đã mấy năm chúng ta chưa trở về mái trường xưa. Mở dạ tiệc, vui hội ngộ là nhất rồi.
Hạm Trưởng đưa tay ra hiệu cho mọi người lắng xuống. Ánh mắt ông bỗng nghiêm lại:
– Vấn đề là thời gian hơi gấp: chưa đầy hai ngày cho rất nhiều việc. Tôi sẽ mời các giới chức trong vùng, trong đó có ông bà Đại Biểu Trung Phần.
Ông chỉ tấm bảng đồng trên vách bên trái, khắc tên phu nhân ông Đại Biểu – mẹ đỡ đầu chiến hạm – và ngày tiếp nhận:
– Cả năm không ai để ý lau chùi nó. Sĩ quan trực lo việc này.
Rồi ông phân công một hơi, gọn như đọc lệnh hành quân: Trung Úy Quá và sĩ quan cơ khí lo treo cờ đèn; Trung Úy Tùng lo hệ thống âm thanh; Thiếu Úy Được lo chở bàn ghế, dự trù ba mươi khách, thủy thủ đoàn không ai được ngồi. Cứ mỗi cái tên được giao việc là tiếng “Thưa, nhận rõ” bật lên, ngắn và khô như đạn lên nòng.
Ông nhìn Tâm và tôi:
– Hai Thiếu Úy Tâm và Bằng lo thực phẩm, thức uống cho chín mươi người. Ít nhất ba món, không kể tráng miệng. Cho uống bia, nhưng không được say sưa. Tiệc từ bảy giờ tối tới nửa đêm; khách tự túc phương tiện đến, tan tiệc sẽ có xe đưa về tận nhà. Tôi sẽ mượn xe, bàn ghế của quân trường. Các anh liên lạc mang xuống tàu.
Sau cùng ông quay sang Đắc, giọng chùng xuống:
– Và cũng coi luôn đây là tiệc tiễn Hạm Phó. Chúc mừng anh thăng tiến Hạm Trưởng. Nhưng dạ tiệc này anh không góp tay không xong. Vậy nhờ anh lãnh phần nhiệm vụ cuối cùng: đôn đốc, kiểm soát, làm hoạt náo viên sao cho dạ tiệc thành công mỹ mãn. Việc bàn giao, anh thu xếp với Trung Úy Quá.
Hạm Phó Đắc cười, nụ cười dễ thương thường ngày:
– Chắc chắn thành công, Hạm Trưởng yên trí.
– Sáng mai điểm danh, anh thông báo cho toàn thể nhân viên biết chương trình. Có ai muốn mời khách thì cho biết. Phải chắc chắn mời thân nhân, không mời phất phơ.
Cuộc họp tan. Ai cũng có một phần vụ để lo cùng với niềm háo hức riêng. Tâm kéo tôi lại, hỏi ngay tôi dự định nấu món gì. Tôi thú thật từ nhỏ chí lớn tôi chỉ biết ăn.
Tâm đưa nắm tay dọa:
– Nhưng bây giờ mày đang là trưởng ban ẩm thực.
Tâm nói đúng. Tôi có nhiều thứ phải lo – thực đơn, chén dĩa, muỗng đũa cho chín mươi người. Và thêm một câu hỏi khó quyết định: có nên mời Hồng?
Câu hỏi đó đặt ra vấn đề mới. Nếu đến mời thì phải có quà cho nàng và ba mẹ nàng. Mà quà coi được thì phải về Sài Gòn. Nhưng khuya nay đã khởi hành. Thôi thì tìm ở tiệm sang nhất Nha Trang.
Phải chi có nhiều thì giờ hơn để gửi thiệp mời: không cần mua sắm, giải thích hay xin lỗi, hứa hẹn. Nếu nàng đến, tức nàng còn yêu. Không đến, một trả lời dứt khoát.
Thốt nhiên tôi chợt nhớ nhiệm vụ sĩ quan trực và hốt hoảng nhào ra cửa đổ bộ. Mặt nước đã tụt xuống, để nguyên tấm vỉ sắt nằm trên lớp bùn đen dọc bờ. Nước ròng từ lúc nào. Đáng lẽ từ mươi phút trước tôi phải rút tàu ra nhưng lại lẩm cẩm bận trí với chuyện thiệp mời. Tôi cấp báo Hạm Phó, cho nhận còi nhiệm sở vận chuyển rồi trở ra cửa đổ bộ đeo điện thoại. Ông cho lệnh nâng vỉ sắt. Tôi thi hành.
Vài phút sau máy kéo neo sẵn sàng, máy chánh nổ giòn, cả con tàu rung lên, gầm gừ, giật giật, mà cứ ì ra. Nó đang chở nặng.
Ba phút. Năm phút. Rồi lườn tàu trượt lên bùn, nhích ra, chậm rãi, miễn cưỡng, như người bị đánh thức. Con tàu vừa lắc nhẹ, tôi nghe Hạm Phó cho máy tiến, rồi tức khắc máy ngưng. Ông cho lệnh tôi thả vỉ sắt.
Vừa lúc đó tôi thấy Hạm Trưởng bước tới, mặc áo thun, chân mang dép. Ông nhìn tấm vỉ sắt nằm trên mép bờ, không nói câu nào, rồi quay vào. Cái im lặng đó nặng hơn mọi lời khiển trách.
Đắc cũng xuống tới nơi, đứng cạnh tôi, nhỏ giọng:
– Còn may. Trễ thêm mươi phút nữa thì cả tàu nằm đó tới tối mai, hết tiệc tùng.
Tôi định phân trần, nhưng chỉ buồn bã cúi đầu. Đắc vỗ vai tôi, giọng bình thản như nói chuyện thời tiết:
– “Nước lớn còn có khi ròng, làm người ai khỏi mắc vòng gian nan”. Một kinh nghiệm, cần cẩn thận hơn.
Rồi ông bỏ đi, để tôi đứng lại một mình.
Nhìn theo chiếc GMC đã dỡ hết đạn rời tàu, tôi thơ thẩn nghĩ: mười lăm phút lơ đãng, tôi suýt làm lỡ chính chuyến đi đưa tôi về với Hồng. Phải chăng tôi và nàng còn duyên số gặp nhau?
Tôi đi về phía lái, kiểm soát dây neo. Dây căng tốt. Ngẩng nhìn khoảng trời sáng trăng, rồi hướng lên thượng nguồn. Dòng sông lặng lẽ không một đám lục bình.
Tôi nguyện cầu đêm bình an để sáng mai ra khơi.
Sau gần hai ngày một đêm Nha Trang sẽ hiện ra.
Biển cũ. Trường xưa. Người yêu ngày nào.
Có những chuyến công tác không bắt đầu bằng một hồi còi, mà bắt đầu bằng nỗi bồn chồn trong lòng người.
Vũ Thất
(Còn tiếp)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét