Từ bến xe lam đến nhà Hồng không xa, vậy mà tôi đi mãi như người lạc đường. Bước rồi chùn chân, rồi bước.
Một tay xách túi quà, tôi vừa đi vừa hình dung cảnh nàng mở cửa, thấy tôi, rồi đóng sầm cửa lại. Nếu thật vậy, tôi sẽ làm gì? Đứng lỳ trước cổng chờ nàng rủ lòng, chắc vậy. Mà nàng có làm ngơ thì cũng đáng đời. Gieo gió gặt bão là lẽ tự nhiên.
Gần tới nơi, tôi chợt nhận ra mình sơ suất: mua quà mà quên mua hoa. Gặp người yêu mà thiếu bó hoa vẫn là một thiếu sót không thể tha thứ. Tôi quay ngược ra chợ Đầm, lựa cho bằng được một bó hồng tươi đúng màu tên nàng.
Một tay xách quà, một tay ôm hoa, tôi lang thang giữa phố, trông cải lương đến buồn cười. Vậy mà chính bó hoa lại làm tôi vững bụng. Dường như có hoa trong tay, người đàn ông dễ tin rằng mình còn được quyền xin tha thứ.
Tôi đi ngang ngôi nhà cũ của Bạch Tuyết. Lòng chùng lại. Tôi như thấy Tuyết ngồi trên bãi cát trước sân, lấy que viết tên tôi. Kỷ niệm như mới mà đã ba năm.
Thêm hai ngã tư nữa là tới nhà Hồng. Không hiểu vì sao những gia đình gốc Huế về Nha Trang thường thích ở quanh đường Hoàng Tử Cảnh. Khu ấy toàn nhà cổ: tường dày, sân sâu, cổng sắt, mái ngói rêu, phảng phất một vẻ kín đáo và trang nghiêm rất Huế. Tuyết và Hồng giống nhau ở vài điểm: đều là con một, gia đình khá giả, danh giá. Ba Tuyết lúc sinh thời là một ông trưởng ty. Ba Hồng, trước khi đắc cử dân biểu, là bác sĩ trưởng một bệnh viện.
Ông thích thời sự, chính trị. Cuối tuần, tôi mong đến nhà ông để được ngắm Hồng; còn ông mong tôi đến để có người nghe ông bàn chuyện thế sự. Ông trình bày hấp dẫn đến nỗi những đề tài tôi vốn chẳng quan tâm bỗng hóa đáng nghe. Nhưng hấp dẫn đến đâu cũng không bằng dáng đài các của cô con gái ngồi phía sau lưng ông, và nụ cười e ấp đủ ám ảnh tôi suốt tuần.
Tôi đặt túi xách xuống đất, nhấn chuông. Tay kia giấu bó hoa sau lưng. Tim tôi đập nhanh hơn cả những lần con tàu vào vùng nước khả nghi.
Không một tiếng động. Tôi nhấn lần thứ hai. Trong khoảnh khắc phập phồng ấy, đủ thứ ý nghĩ chạy qua đầu: hay nàng đi vắng, hay nàng đã thấy tôi qua khe cửa rồi cố tình lờ đi, hay là…
Cánh cửa hé mở. Một con chó nhỏ len ra, phóng về phía tôi, sủa mừng, đuôi ngoáy tít. Tôi nhớ tên nó: Lucy. Hai chân trước và cái mõm nhỏ thò qua song sắt, cố chạm vào tôi. Tôi cúi xuống vỗ đầu nó. Lucy liếm lấy liếm để bàn tay tôi, như thể nó nhớ nhung người khách cũ. Ước gì chủ nó cũng vậy: không hờn giận, chỉ biết mừng.
Tôi ngước lên. Hồng đứng giữa khung cửa, bất động, như chưa nhận ra tôi. Bộ áo trắng làm dáng nàng mảnh mai đến liêu trai. Trong một thoáng, tôi tưởng mình đang nhìn một bức tranh chứ không phải một người con gái bằng xương bằng thịt. Ba tháng đã làm nàng gầy đi, hay tại tôi tưởng tượng?
Chợt nàng bước vội ra, đôi môi hé thành một vòng ngạc nhiên. Nàng kéo chốt cổng, mắt không rời tôi:
– Về khi mô?
Tôi thở hắt:
– Tàu mới đến.
– Răng mà không viết thư? Hồng trông bắt mệt!
Lời trách, vậy mà nghe ra chỉ toàn tủi thân. Và chính cái giọng tủi thân ấy còn làm tôi đau hơn mọi lời nặng nhẹ.
Tôi nhấc túi xách qua cổng. Lucy nhảy lưng tưng quanh chân. Tôi đưa bó hoa cho Hồng:
– Cho anh xin lỗi… ngàn lần.
Hồng nhận bó hoa, giọng dịu xuống:
– Cám ơn anh. Anh vô nhà đi.
Nàng tựa bó hoa vào ngực, bước vội vào trong. Tôi theo sau, lòng nhẹ hẳn. Mọi vật vẫn nguyên chỗ cũ: bộ sofa, chiếc bàn khảm xà cừ, tủ kính bày mấy con thú thủy tinh, mấy bức tranh trên vách. Chỉ có tôi là vắng mặt quá lâu.
– Mời anh ngồi.
Hồng đặt bó hoa lên bàn, rồi nâng từng cành, chăm chút hôn từng đóa. Đôi mắt nàng rưng rưng. Tôi hiểu, nàng xúc động vì gặp lại tôi hơn là vì bó hoa. Bó hoa chỉ là cái cớ để cúi mặt ngăn dòng nước mắt.
– Hoa đẹp quá.
Tôi khẽ hít một hơi dài. Cửa ải khó khăn đã trót lọt, hay vẫn còn ở phía trước?
Hồng đem hoa vào bếp, cắm vào bình. Tôi đặt túi quà lên bàn rồi ngồi xuống. Lucy thót lên nằm sát bên tôi, như một người bạn cũ đòi phần âu yếm.
Lát sau nàng trở ra, đặt bình hoa cạnh túi quà. Những đóa hồng trông tươi hơn, sáng hơn, như vừa được nụ hôn của nàng đánh thức. Ước gì tình yêu chúng tôi cũng được như vậy.
Hồng ngồi xuống, một bên là tôi, một bên là Lucy.
Tôi nghiêng người mở túi, lấy ra từng món:
– Anh có quà tặng hai bác và Hồng. Hộp trà cho bác trai, khăn quàng cho bác gái.
Tôi để hai món quà lên bàn, lấy chiếc hộp thắt nơ:
– Còn đây là quà của Hồng.
Hồng mở, tay hơi run. Cô bán hàng đã mất khá nhiều thì giờ chọn giúp tôi bộ thời trang nhập từ Pháp, thanh nhã, hợp với vẻ đài các của nàng. Hồng ngắm xong, ôm vào lòng.
– Cám ơn anh. Đúng là kiểu em mơ ước.
Giọng nàng chợt nghẹn ngào:
– Em nhớ bài thơ của Nguyễn Thị Hoàng. Anh học cùng thời chị ấy, dễ gì không biết.
Nàng cúi mặt, đọc khe khẽ, giọng Huế nhẹ như rót vào lòng tôi từng chữ:
“Chi lạ rứa, chiều ni tui muốn khóc.
Ngó chi tui, đồ cỏ mọn hoa hèn.
Nhìn chi tui, hình đom đóm trong đêm.
Cho tui tủi bên ni bờ cô tịch…”
Nàng ngừng lại, nước mắt chảy xuống má. Tôi biết mình chính là nguyên cớ của những giọt nước mắt ấy. Rồi bỗng khuôn mặt nàng mờ đi trước mắt tôi. Ba tháng qua, tôi mải mê trách Hiền quá tệ bạc, mà quên rằng chính tôi cũng đang tàn nhẫn với một người con gái khác.
Tôi kéo Hồng tựa đầu vào vai, thì thầm:
– Em không phải cỏ mọn hoa hèn. Em là tôn nữ. Là công chúa.
Hồng lắc đầu:
– Đừng nói rứa anh. Đừng làm em tủi thân thêm. Trong tình yêu, không được yêu thì khác chi cỏ mọn hoa hèn.
Câu nói nhọn như mũi dao. Tôi vội phản đối:
– Không yêu em mà suốt hai năm anh chịu khó ngồi hầu chuyện ba em sao? Không yêu em mà…
Hồng bịt miệng tôi bằng một nụ hôn.
Nụ hôn nồng nàn, vụng dại mà cháy bỏng. Khá lâu sau, khi rời môi tôi, nàng cúi mặt, má đỏ bừng.
Tôi sững sờ. Một kẻ liều mạng như tôi, suốt hai năm quen Hồng chưa một lần dám hôn nàng. Đi đâu nàng cũng kề bên mẹ, còn tôi thì phải đi cạnh ba nàng. Có khi được ngồi riêng, nhưng luôn luôn có cái bàn ở giữa. Đã nhiều lần tôi định đứng dậy đi vòng qua bàn để hôn nàng, nhưng vẻ đoan trang ấy ghim chặt tôi tại chỗ.
Vậy mà hôm nay, Hồng liều hơn cả tôi. Có lẽ nàng đã hiểu ra rằng trong tình yêu, giữ khoảng cách mãi thì khoảng cách có thể thành vĩnh viễn.
Tôi ngập ngừng:
– Hai bác không có ở nhà sao?
– Ba mạ em ra Huế lo vụ đất đai tranh chấp. Thứ hai mới về.
Một câu trả lời bình thường. Vậy mà trong lòng tôi vang lên một hồi chuông. Cả ngôi nhà này, đêm nay, chỉ có nàng. Tôi vội gạt ý nghĩ ấy đi, và tự nhủ một điều dễ chịu hơn: vậy là Hồng sẽ dễ nhận lời dự tiệc.
Nàng ngước nhìn tôi, giọng dịu mà run:
– Anh có biết ba tháng xa anh, em ước chi không? Em ước ba điều. Một là được gặp lại anh. Hai là tìm được dịp để hôn đền bù. Và ba là…
Nàng im bặt. Tôi cười:
– Anh cũng từng mơ được một lần hôn em. Một nụ hôn dài… bất tận.
Hồng nhắm mắt. Tôi vòng tay siết chặt nàng. Lần này nụ hôn không còn bất ngờ nữa. Nó dài hơn, mặn nồng hơn, như gom hết những tháng ngày chờ đợi. Thân nàng khẽ run. Tôi nghe rõ nhịp tim nàng đập gấp.
Mãi lâu sau, Hồng mới đẩy nhẹ tôi ra. Hạnh phúc tràn trề, tôi xông xáo nói:
– Cám ơn Hồng đã thương yêu và chờ đợi. Còn điều ước thứ ba là gì? Nếu được, anh đền bù luôn.
Nàng đập vào vai tôi:
– Ăn nói chi lạ! Chưa biết em ước chi mà đã đòi đền bù. Thôi, em không nói. Dị òm.
– Anh muốn nghe. Hồng nói đi. Không dị mô.
Nghe tôi nhại giọng Huế, nàng đấm tôi túi bụi:
– Ghét anh dễ sợ!
Tôi nhìn nàng thật lâu. Mãi đến bây giờ tôi mới thấy trên môi trên của nàng, hơi lệch về bên trái, có một nốt ruồi nhỏ. Chỉ một chấm đen rất nhẹ, vậy mà làm đôi môi tươi thắm hơn. Ở cuối mi mắt phải còn một nốt nữa. Yêu một người hai năm trời, mà đến hôm nay mới thấy.
Nàng nguýt tôi, mặt lại đỏ bừng. Tôi ép nàng sát vào mình. Lucy ngẩng đầu nghe ngóng, rồi cuộn tròn nằm xuống.
Hồng cất giọng buồn:
– Nó là bạn thân nhất của em từ ngày anh không đến nữa. Không có nó, chắc em nhớ anh còn tệ hơn.
Tôi muốn tìm một câu đùa, nhưng không nghĩ ra. Lời đùa không đúng lúc hóa ra vô duyên. Tôi hình dung những buổi chiều Hồng ngồi một mình trong căn phòng khách trang nghiêm này, chỉ có con chó nhỏ làm bạn, mắt nhìn ra cổng chờ một bóng người chẳng bao giờ tới. Hình dung ấy làm tôi thắt ruột.
Hồng trầm giọng, tiếp:
– Gần đây, ba mạ cho em chọn. Hoặc cuối năm xong trung học thì lấy chồng. Hoặc niên khóa tới vô nội trú đại học Huế. Em sợ cả hai vì đều có nghĩa phải xa anh. Nên em xin được học ở Sài Gòn.
Tôi ngồi lặng.
Hai người con gái Nha Trang từng yêu tôi, khi vào Sài Gòn đều yêu người khác. Cứ cho rằng Hồng sẽ sắt son – chính điều ấy mới làm tôi bối rối. Bốn năm sau, nàng tốt nghiệp, tôi không thể không tiến hành chuyện cưới xin. Mà đời lính biển lênh đênh, tiền tháng nào tiêu tháng nấy. Ba mẹ tôi có lẽ đang kiệt quệ sau hai đám cưới cách năm của anh và chị tôi. Cho dù là bốn năm nữa, tôi vẫn không đành lòng.
Hồng lại lên tiếng:
– Nhưng ba mạ không chịu cho em học ở Sài Gòn, vừa xô bồ vừa không có bà con gởi gắm. Học ở Huế là tiện nhất. Em đã suy nghĩ nhiều, cả khóc nữa. Mong được thư anh an ủi, mà anh bặt tăm.
Nàng ngẩng nhìn tôi, nước mắt rưng rưng:
– Em cứ tự nhắc mình đừng yêu anh nữa, đừng nhớ anh nữa, đừng hy vọng chi nữa. Rứa mà cứ nhớ, cứ chờ. Rồi mới đây, giận quá, em nói với ba mạ là em chọn… lấy chồng.
Nàng dừng lại, nhìn tôi như chờ một phản ứng.
Tôi xét lòng mình. Nếu phải chọn một trong những người tôi từng yêu để làm vợ, tôi nghiêng hẳn về Hồng. Nhưng nếu chưa cưới được thì tốt hơn là đừng hứa hẹn. Cưới, với tôi lúc nào cũng được. Còn Hồng chỉ có một thời.
Tôi cố mỉm cười, ngâm hai câu thơ Nguyễn Bính:
– Gái lớn, ai không phải lấy chồng,
Can gì mà khóc, nín đi không…
Rồi tôi hỏi:
– Mà người em chọn làm chồng là ai vậy?
Ánh mắt nàng sững lại, đau đớn đến mức tôi biết ngay mình vừa nói một câu ngu xuẩn.
– Là ai vậy? Câu hỏi của anh làm em chua xót. Câu em mong được nghe là: “Em nhìn anh xem có hy vọng được em chọn làm chồng?” Dù chỉ là một câu nói chơi, ít nhất cũng cho thấy anh hiểu điều em mong mỏi. Đằng này anh… vô tình quá! Nếu em muốn làm vợ người khác, em đã không thèm nhìn mặt anh, đã không cho anh vô nhà.
Nàng nói đúng đến độ tôi chỉ biết cúi mặt. Hồng nói tiếp:
– Anh biết không, sau một năm anh đến nhà, ba mạ đều khen anh hiền hậu thật thà và đã chọn anh làm rể tương lai. Chính vì rứa mà em chờ anh. Nhưng bữa ni anh trở lại chỉ để cho em thấy là anh không… hiền mô!
Tôi buông tiếng thở dài, rồi chậm rãi nói:
– Hồng à, em hiểu lầm ý anh. Bất cứ người đàn ông nào có được người vợ như em cũng là cả một diễm phúc. Anh khao khát diễm phúc ấy. Nhưng muốn cưới em, anh phải bước qua nhiều cửa. Trước hết là tiền lo đám cưới. Rồi tiền sắm sửa cho một tổ ấm. Sau cùng, phải làm sao giữ được cho tổ ấm ấy luôn ấm. Mà anh chỉ là một thiếu úy mới ra trường. Bắt một người con gái chờ bốn năm đã là điều không nên. Bắt một người con gái quen sống cao sang phải sống đời chật vật, lại càng không phải.
Hồng nhìn tôi không chớp mắt. Trong ánh mắt ấy, sự giận hờn đang từ từ nhường chỗ cho một niềm hy vọng dè dặt, sợ sệt, như người vừa qua cơn bão còn chưa dám tin trời đã tạnh. Nàng cao giọng:
– Em không màng vất vả…
Tôi nói tiếp:
– Nếu vậy thì theo ý ba em là thích hợp nhất. Thời gian em học ở Huế, anh sẽ cố dành dụm để lo đám cưới và mướn một căn phòng.
– Em sẽ nhờ ba mạ giúp mua căn nhà. Em có việc làm, sẽ trả dần.
– Khi mình có con, Hải Quân sẽ cung cấp.
Tôi cố thêm một câu đùa:
– Trừ phi anh trúng số. Trúng số là anh cưới em liền. Từ nay mỗi tuần anh mua một vé.
Hồng cười như mếu:
– Được rứa thì nói chi. Bốn năm đại học, nghe lâu dễ sợ. Mỗi năm biết có được một lần gặp nhau, hay còn tệ hơn Ngưu Lang Chức Nữ!
– Mỗi mùa hè mình gặp nhau. Hoặc khi tàu anh công tác Đà Nẵng.
Hồng trầm ngâm một lúc rồi nói:
– Thôi, để thời gian trả lời. Bây giờ mình đi ăn cơm.
Tôi giật mình nhìn đồng hồ. Sáng nay tôi đã nhờ Tâm lo giùm mọi việc cho dạ tiệc và hứa về tàu tiếp tay lúc ba giờ. Bây giờ mới đúng ngọ. Còn thư thả.
– Hôm nay thật ra anh có ý định mời cơm hai bác và Hồng. Vậy Hồng đại diện luôn ba mạ, hỉ?
Hồng cười, chạy vào trong. Khi trở ra, nàng biến thành một cô gái khác: áo sơ mi xanh nước biển, quần tây trắng, một chút má hồng, một chút son môi. Tươi trẻ, uyển chuyển, sang mà không kiểu cách.
Chúng tôi đi cạnh nhau như đôi bạn học, dưới những cây me tây xòe tán che nắng. Tôi không nhớ đã qua những con đường nào trước khi đến nhà hàng La Frégate, nơi trước đây ba mạ Hồng thường đưa chúng tôi đi ăn tối.
Người tiếp viên niềm nở đưa chúng tôi đến một bàn hai ghế đối diện, giữa bàn có cành lan trắng cắm trong chiếc bình pha lê nhỏ nhắn. Trước mỗi ghế là chiếc đĩa trắng lớn, khăn ăn xếp gọn, hai ly thủy tinh, dao nĩa sáng bóng.
Hồng tự nhiên gọi món cả hai cùng thích: châteaubriand nướng khá chín, khoai tán và nước xốt. Đó cũng là món tủ của ba nàng. Như thường lệ, mỗi đứa một ly rượu chát nhẹ, vị Pinot Noir.
Giữa hương vị thơm ngon và cảnh trí dịu dàng, tôi hỏi thăm sức khỏe song thân của Hồng, hỏi việc học lớp đệ nhất ban văn chương. Hồng bảo môn nào cũng suôn sẻ, chỉ những lúc nhớ tôi thì phải tốn thêm thì giờ đọc đi đọc lại mới vô đầu. Tôi hỏi nàng đã đọc hết sách Tự Lực Văn Đoàn và mấy cuốn của Françoise Sagan chưa, ba tháng qua đã xem những phim gì… Hồng hỏi tôi về đời lính biển. Tôi ba hoa chích chòe toàn chuyện đi biển, giấu biệt chuyện đi bờ: những đêm trực dưới trời sao, những cơn sóng dựng đứng, những lần bị phục kích.
Chúng tôi kết thúc bữa ăn bằng bánh flan và cà phê đen. Khi tôi gọi tính tiền, Hồng nói:
– Ba mạ đã dặn nhà hàng ghi sổ…
Tôi vẫn đưa tiền. Người bồi bàn không dám nhận. Tôi đành để lại trên bàn một khoản pourboire.
Rời nhà hàng, chúng tôi đi bộ ngang ty Bưu Điện rồi ra bãi biển. Từ đó, tay trong tay, chúng tôi thả dọc mép nước, nhắc lại những ngày mới quen. Gần ba giờ, tôi nói với nàng về bữa dạ tiệc kỷ niệm đệ nhất chu niên và mời nàng tham dự.
Hồng reo lên:
– Em sẽ được biết tàu anh. Sướng dễ sợ!
Vũ Thất
(Còn tiếp)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét