Thứ Năm, 2 tháng 4, 2026

Tin Buồn Viện Hán Học

 

                          Phân Ưu

 


Cựu đồng Môn Viện Hán Học Huế vô cùng thương tiếc khi nhận được tin buồn này.


Tang lễ:

Tổ chức tại Peek Funeral Home - Chapel #5

Ngày Thứ Bảy 18/4/2026 Từ 9:00 AM - 10:00AM

Thăm viếng từ 10: AM đến 2:00 PM

Hỏa táng từ 2:00 PM đến 3:00PM 

Nguyện cầu hương linh chị Nguyễn Thị Cam sớm vãng sanh nơi miền cực lạc.


Đồng chịu chung nỗi buồn mất mát lớn lao này với quý quyến.

Cựu SV VHH Huế Hải ngoại và Quốc nội đồng bái biệt.

                                    *****

Khóc Chị


Chị Cam ơi!
Chị là "Chị Cả" bọn em
Nhìn chị đau đớn tim em nhói lòng.
Biết rằng số mệnh buộc ràng
Nhưng khi chị bỏ bụi trần ra đi
Bỏ gia đình, buông thị phi
Chị về với Phật, điều này chị mong
Nhưng sao em cứ đau lòng 
Đêm nằm nhớ mãi lòng vòng chuyện xưa:
Bốn mùa từ Đông tới Thu 

Chị em vui vẻ viếng Chùa, viếng Lăng,
Ngắm Vọng Cảnh, dòng Hương Giang,
Cùng tìm Đức Mẹ La Vang nguyện cầu
Xin cho trọn vẹn tình đầu...
Biết bao chuyện cũ với nhau ùa về...

Chị ơi! 
Tình chị em của chúng ta
Khác chi Tử Kỳ - Bá Nha
Giờ đây..
Tử Kỳ đã... gãy cánh.
Bá Nha đành... buông đàn...!
Ôi! Buồn - Đau - Thương - Nhớ... ngút ngàn!
 
  Bái biệt Chị Cả yêu quý
          Hồng Phi

                                     *****



Lời Tiễn Biệt bạn đồng môn Viện Hán Học Huế Nguyễn Thị Cam pháp danh Phẩm Ngọc (1941-2026) Khóa II - 1960-1965.

Kính thưa quý Thầy,
Kính thưa tang quyến Chị Nguyễn Thị Cam
Kính thưa anh chị em cựu sinh viên Viện Hán Học Huế tại Hải Ngoại và Qước Nội

Đặc biệt: Kính thưa anh linh chị Nguyễn Thị Cam

Trước hết, cá nhân chúng tôi, Nguyễn Lý-Tưởng, khóa I Viện Hán Học là người được anh chị em cựu sinh viên Viện Hán Học Huế hải ngoại đồng ý cho tôi được thay mặt anh chị em trong những dịp họp mặt đón tiếp Cụ Võ Như Nguyện là một trong những vị có công lao tổ chức điều hành Viện Hán Học từ những ngày đầu tiên khi Viện mới thành lập (1959) và cũng là Quyền Giám Đốc Viện Hán  Học thay thế Linh Mục Cao Văn Luận (nguyên Viện Trưởng Đại Học Huế kiêm Giám Đốc Viện Hán Học) sau khi ngài từ chức khoảng 1964...

 Tôi được biết  Chị Nguyễn Thị Cam, vào mùa Thu năm 1960, ngay khi Chị mới thi đậu vào Khóa thứ II Viện Hán Học (1960-1965)...
 Chị là cựu học sinh trường Nữ Trung học Gia long. Năm 1960, chi thi vào Khóa II Viện Hán Học Huế với chương trình học 05 năm, tốt nghiệp sẽ là Giáo sư Trung học. Chị được chị em Miền Nam ra Huế học, quý mến và thương yêu phong tặng chức "Chị Cả"  của nhóm. Chị Cam ăn nói chững chạc, hòa nhã, luôn tỏ ra có trách nhiệm với mọi người. Từ các vị giáo sư cho đến bạn học cùng lớp cùng trường, ai cũng thương mến chị, và xem chị như là đại diện Khóa II của Viện Hán học, vì ngoài việc chăm chỉ học hành, chị còn là người tham gia công việc chung của lớp, của trường suốt 05 năm cho đến khi tốt nghiệp (1965).
    Ra trường, chị được bổ dụng về dạy trường Thạnh Hòa (Kiên Giang). Nơi đây chị gặp anh Võ Văn Minh đồng nghiệp và kết duyên cầm sắt. Sau đó chị cùng chồng vê dạy trường Trịnh Hoài Đức (Bình Dương), tiếp theo chuyển đến trường Hoàng Đạo (Kontum). Nơi đây anh Minh được đảm nhiệm chức Trưởng Ty Giáo Dục Kontum.

  Vào Tháng Ba 1975 chị phải bỏ nhà cửa, bỏ tài sản ở Kontum chạy về Sài Gòn sống chung với cha mẹ trong ngôi nhà cấp bốn. Sau ngày 30/4/1975, chồng của chị bị "Đi tù Cải Tạo" vì thuộc Chính Quyền VNCH. Thời gian này chị vô cùng vất vả. Chị vừa phải nuôi chông "tù cải tạo" vừa phải nuôi hai người em cũng bị "tù cải tạo" và 6 người con còn nhỏ, đứa thì đang tuổi cắp sách đến trường, đứa còn nằm ngữa.
    Sau mấy năm tù, anh Võ văn Minh  được tha về... Chị đã thu vén và gom góp tiền bạc cho anh vượt biên. Cuộc vượt biển thành công, anh định cư tại Hoa Kỳ... Khoảng 1989, khi có chương trình "ODP" anh  Minh đã bảo lãnh cho vợ con qua Mỹ theo diện đoàn tụ gia đình. Bây giờ các con của Anh Chị   đã học thành tài, có việc làm tốt và ổn định tại tiểu bang California.

Từ năm 1994, 1995, tôi (NLT) và gia đình được đinh cư tại Hoa Kỳ (Nam California) theo diện Cựu Tù Nhân Chính Trị... Tại Mỹ tôi hân hạnh gặp lại cụ Võ Như Nguyện từ Pháp qua thăm con cháu sau mấy mươi năm xa cách. Cụ cho tôi địa chỉ của Võ Hồng Phi. Từ đó, chúng tôi đã liên lạc được với Chị Nguyễn Thị Cam... Chị Nguyễn Thị Cam và Võ Hồng Phi là hai người tích cực liên lạc được nhiều anh chị em ngày xưa và chúng tôi đã tổ chức được nhiều lần gặp gỡ Cụ Nguyện , cũng như đón tiếp GS Nguyễn Văn Dương từ VN qua thăm... Chị Cam luôn luôn là cột trụ của anh chị em cựu sinh viên Viện Hán Học hải ngoại. Những dịp vui, buồn trong gia đình anh chị em, đều có mặt đông đủ... Tôi rất hân hạnh được trở thành người đại diện anh chị em cựu sinh viên Viện Hán Học hải ngoại.

Cách nay khoảng sáu tháng (tức vào tháng 9/2025) anh Võ văn Minh chồng của Chị Nguyễn Thị Cam qua đời... Thời gian đó, Tôi bị bệnh nặng, phải vào bệnh viện, giải phẫu... mới về nhà, tiếp tục chữa bệnh nên không tham dự đám tang anh Võ văn Minh  được... Thế rồi lại được tin Chị Cam đau nặng và qua đời  ngày 18/3/2026. Thật bàng hoàng và đau buồn vô cùng.

 Tôi (NLT) đang đau nằm một chỗ, không thể đến tiễn đưa chị nên tôi viết mấy lời tiễn bịệt Chị.

 Nguyện cầu anh linh của Chị được tiêu diêu cõi Phật... vợ chồng đoàn tụ... gặp lại cha me, ông bà, tổ tiên đã khuất...  Anh chị em chúng tôi vô cùng buồn thương vì mất đi một người bạn, người Chị đạo đức... Hình ảnh "Chị Cam" vui vẻ, năng nổ hiện hữu mãi trong lòng của chúng tôi.
Xin vĩnh biệt chị.


(Nguyễn Lý-Tưởng thay mặt cho anh chi em Cựu Sinh Viên Viện Hán Học Huế tại Hải Ngoại bái biệt chị)










Thứ Tư, 1 tháng 4, 2026

TẠM BIỆT THÁNG 3 - Thơ Songquang và Thơ Họa

       

TẠM BIỆT THÁNG 3

Tháng Ba khép lại một mùa Xuân

Đã khiến cho ta chút ngại ngần

Phượng đỏ chờ mong lòng thắc thỏm

Mai vàng tiễn biệt dạ phân vân

Chói chang nắng rọi trên vòm lá

Lác đác mưa về giữa khoảng sân

Sắp đến sang hè ve rộn rã

Trường xưa bạn cũ nhớ muôn phần

Songquang

 20260331


Thơ Họa:

TẠM BIỆT THÁNG BA

Tạm biệt tháng Ba hết tiết Xuân

Cuối mùa ấm áp mới tần ngần

Hạ sang phượng vĩ đơm bông búp

Nhạc trỗi tiếng ve vọng vũ vân

Hơi nóng đầu hè khô nhánh lá

Mưa buồn trước cửa ướt nền sân

Kỳ thi mãn khoá thầy cô nghỉ

Bạn học chia tay nhớ bội phần…

Mai Xuân Thanh

Silicone Valley March 31, 2026

 

   XUÂN ĐI HẠ ĐẾN

Đông tàn thời tiết chuyển sang Xuân

Kế tiếp Xuân đi Hạ đến gần.

Cây Phượng Sân Trường hoa trổ đỏ

Hè về nhìn phượ̣ng thoáng phân vân...

Chia tay Lưu Bút... Cùng hoài niệm

Vẳng tiếng ve sầu khóc trước sân.

Lưu luyến bạn bè chung một lớp,

Thầy Cô tạm biệt... Bạn xa dần...

 Mỹ Nga

  31/03/ 2026  ÂL, 14/02/ Bính Ngọ

 

NUỐI BƯỚC THỜI GIAN

Tháng ngày thấm thoắt sắp tàn Xuân

Mây lãng trời cao trắng trắng ngần

Bụi trúc xanh um tràn phủ giậu

Cây đào héo úa rụng đầy sân

Nhận ranh mùa tiết lòng hoai nuối

Ngắm bước thời gian dạ vướng vân

Giật thót trăm năm đà sắp cạn…

Liệu ta vui dạo được bao phần

CAO BỒI GIÀ

   31-3-2026


SÁNG MÙA XUÂN (Canada)

Giờ đây trời đã bước vào Xuân

Làn tuyết mất đi sự trắng ngần

Róc rách suối nguồn len dốc đá

Lưa thưa đồi núi chắn phù vân

Sáo đen tìm bắt trùn trên cỏ

Hoa đỏ trồi lên đất trước sân

Đàn trẻ đứng ngồi chờ Bus rước

Mẹ cha cũng đợi để chia phần.

2026-04-01

  Võ Ngô

 

THÁNG BA LAI VÃNG

Mai đào úa rụng, buổi tàn Xuân

Cúc lẻ đơm hoa nở trắng ngần

Nắng đượm thêm nồng trên biếc thủy

Sương mờ đã nhạt dưới phù vân

Người thưa ngõ vắng then cài cổng

Khách hết ta còn bóng rọi sân

Phượng lá ngời xanh, ve tịnh khẩu

Tháng Ba lai vãng cũng yên phần

Lý Đức Quỳnh

   1/4/2026 


   NHÀ HÀNG XÓM

Thơ thẩn nhìn ai đứng tiễn Xuân

 Hỏi ra lòng dạ lại tần ngần

 Tháng Ba quên bẵng ngày sinh nhật

 Viễn ảnh thương hoài núi Hải Vân

 Mới đó nửa trăm năm biệt họ

 Vừa đây gần thế kỷ cách sân

 Hai nhà sát cạnh mà xa lạ

 Tiệc rượu sao không gọi dự phần …

     Hawthorne  31 - 3 - 2026

CAO MỴ NHÂN

 

     MÙA HÈ KỶ NIỆM

Thoáng chốc đà qua hết tiết Xuân

Lung linh nắng rọi, ánh trong ngần

Xanh tươi vòm lá phô chồi nụ

Cao vợi bầu trời điểm áng vân

Nhớ sắc tường vàng nơi lớp học

Thương màu phượng đỏ ở vườn sân

Hè về... kỷ niệm dần quay lại

Hình ảnh trường xưa đẹp bội phần.

  Sông Thu

( 01/04/2026 )

 

    NIỆM THỨC

        (Hoán vận)

Tiết đổi thay mùa, Hạ tiễn Xuân

Mai Đào xao xác rụng đầy sân

Cúc xòe bông thắm phô vàng xuộm (*)

Sen mở đài thơm rộ trắng ngần...

Tuổi đuổi xuân đi... vèo cát bụi

Ngày vơi bóng ngả... thoảng phù vân

Chợt va mắt biếc chồi non nở

Cứ ngợ trẻ ra được mấy phần?

Nguyễn Huy Khôi

     01-4-2026

(*) Cúc indo nở vào mùa hè.

 

      VƯỜN  XUÂN

Thảm cỏ xanh rờn trải nắng Xuân

Sương đêm hoa ngậm giọt trong ngần .

Chân trời rạng rỡ vầng hồng nhật

Đồi núi mơ màng dải bạch vân.

 Mơn mởn bầu non đơm khắp nhánh

Mỹ miều cúc dại nở đầy sân.

Lòng dưng man mác tháng Tư tới

Vận nước buồn thương xót số phần !

   Mailoc

03-31-2026

 

TƯ TÂY CÒN XUÂN LẮM

Tư tây giữ trọn cuối trời Xuân

Tên tháng tùy nơi lệch chớ ngần . . .

Đêm ấp đò bông còn thoải thoải

Ngày choàng thứ kép cứ van vân

Nắng chiều gọi sưởi qua mành trúc

Mưa sớm cho nhìn ướt mặt sân

Tiết Việt năm nay tuồng quái dị

Dường như thuận lợi vượt đôi phần,

     04 - 2026   

Tran Nhu Tung 


XUÂN QUA HẠ ĐẾN 

Phút chốc mà nay đã hết Xuân,

Nghe qua khiến dạ ngẩn ngơ ngần.

Hạ về phượng lóe tươi màu nhú,

Xuân bỏ mai vàng khuất bóng vân.

Nắng sớm chói chang lung lắt lá,

Mưa mùa rỉ rả rớt vèo sân.

Bâng khuâng nhắc nhở ngày xưa học,

Bạn cũ xa xôi nhớ vạn phần.

                        *

Kỷ niệm Hạ về nhắc lại Xuân.

HỒ NGUYỄN

  (01-4-2026)

 

     TẠM BIỆT 

Tạm biệt đầu năm ba tháng Xuân

Heo may gió mát trời trong ngần

Phượng còn nụ búp nay mai nở

Đông lạnh đã qua dạ buồn vân

Hạ nắng chói chang tre cuốn lá

Ve sầu than thở bụi bên sân

Chia tay báo hiệu ngày xa cách

Ba tháng hè... lâu... nhớ bội phần !..

 Yên Hà

1/4/2026

 

KIẾP SỐNG MONG MANH 

Tháng lụn năm tàn đã hết Xuân,

Thoáng nhìn đuôi mắt thấy in ngần (1)

Dung nhan thuở ấy sao tươi tắn!

Mái tóc bây giờ đã thải vân! (2)

Lá biếc ai rằng không héo úa?

Giai nhân chẳng lẽ mãi sân sân?

Mong manh kiếp sống là sinh ký,

Phúc đức vun trồng không mất phần.

Đỗ Quang Vinh

     1-4-2026

Chú thích:

(1) In ngần = vết thành vết, thành ngấn rõ ràng. vd, Truyện Kiều có câu:

        “Mày ai trăng mới in ngần,

         Phấn thừa hương cũ bội phần xót xa”

(Trăng mới là trăng đầu tháng, tựa như lông mày Kiều, nghĩa là trông thấy vầng trăng đầu tháng mà nhớ người cũ)

(2) thải vân 彩 雲= mây màu rực rỡ; hình dung tóc đẹp mượt mà (Từ điển Thiều Chửu)

(3) sân sân = Tươi tốt. Vd: Kim niên thích chủng đậu, Chi diệp hà sân sân 今 年 適 種 豆, 枝 葉 何 莘 莘 (Năm nay vừa trồng đậu, Cành lá sao mà tươi tốt) 


    ĐẸP TƯƠI PHẦN 

Khắc giờ thấm thoát vượt qua Xuân

Tuổi tác càng tăng, vợi ngưỡng ngần

Nhớ thuở đôi mươi tràn nhựa sống

Mê thời áo trắng lượn lờ vân

Bạn bè lớp học thầy trân quý

Phượng vỹ ,cây bàng đỏ thắm sân

Cũ mới đan xen lồng kỷ niệm

Con đường lấp lánh đẹp tươi phần !

PHƯỢNG HỒNG 


ẨN ỨC NGÀY RA TRẬN

         (3-1967 -  4 vận)

Ra trận, biệt nhau... tráng sức xuân

Nàng rơm rớm mắt, lệ trong ngần!

Người đi bịn rịn lòng xao xuyến

Kẻ ở bâng lâng dạ vướng vân!

Chiến tuyến xông pha, chồng tận sức

Hậu phương đương đảm, vợ quên thân!

Việc nhà việc nước... ân tình nặng

Trở lại quê hương, cực... vợi phần.

Nguyễn Huy Khôi

      04-4-2026

 

CẢM HOÀI MỘT THÁNG TƯ

             (Họa 4 vần)

Một cuối tháng tư biệt tuổi xuân

Đường đời sinh tử trải phong trần

Quê nhà một thuở qua cơ cực

Trời biển một phen quá vũ vân

Hồi phục xuân tình hoan hỉ xả

Bảo hòa xuân lão đoạn tham sân

Cảm hoài dĩ vãng lòng an ủi

Tự lập tha hương hưởng phước phần.

(Phan Thượng Hải)

4/4/26 










































Đời Thủy Thủ III - Vũ Thất , CHƯƠNG 37: HƯỚNG VỀ GIỚI TUYẾN

 

                                                                       

Đời Thủy Thủ III - Vũ Thất
CHƯƠNG 37: HƯỚNG VỀ GIỚI TUYẾN

Võ Bằng rời buổi họp tại Trung Tâm Hành Quân Hải Quân Vùng 1 thì mặt trời đã nằm trên đỉnh Trường Sơn. Vịnh Đà Nẵng như tấm lụa xanh trải rộng.
Về tàu, anh cho lệnh họp sĩ quan thông báo công tác.
Rạch Gầm được giao nhiệm vụ tuần dương trong sáu ngày, từ cửa Tư Hiền đến cửa Việt. Các đơn vị hải quân hoạt động phối hợp gồm các khinh tốc đỉnh và chiến thuyền. Đơn vị bạn gồm các Chi Khu Gio Linh, Triệu Phong, Hải Lăng, Phong Điền, Quảng Điền, Hương Điền, Phú Vang.
Đại úy Graham bệnh, không dự chuyến công tác này.

Hồi mười giờ rưỡi, Rạch Gầm ngang qua đèo Hải Vân. Mây trắng phủ đỉnh đèo. Vịnh Chân Mây còn lãng đãng sương mù từ từ hiện ra. Mặt vịnh tĩnh lặng, thanh bình. Bãi cát trắng chạy vòng cung dài tám cây số, phân chia màu xanh của rừng, của biển, tạo nên vẻ đẹp hoang sơ, lãng mạn bất chấp không khí chiến tranh.
Hạm Trưởng Võ Bằng đang say sưa ngắm phong cảnh tuyệt vời thì tiếng của quan sát viên vang lên:
– Trình Hạm Trưởng, có một tàu đánh cá đang quay đầu chạy ra khơi hướng một giờ.
Võ Bằng nâng ống dòm quan sát mục tiêu, rồi ra lệnh:
– Hai máy tiến 4. Lái hướng Bắc.
Chiến hạm tăng tốc, mũi chếch dần về bên phải và giữ hướng 0 độ.
Chiếc ngư thuyền đổi hướng về tay trái. Chiến hạm đuổi theo. Võ Bằng đọc số trước mũi: TT và tám con số. Số đăng bộ của tỉnh Thừa Thiên. Anh dùng loa kêu gọi ngừng máy.

Chiếc ghe tuân lệnh. Trên boong có ba người đàn ông, tất cả mặc quần đùi, ở trần.
Võ Bằng ra lệnh hạ sĩ quan trực:
– Trung Sĩ Liêm, thủ khẩu 20 ly. Toán xét ghe sẵn sàng.
Anh nói qua loa phóng thanh:
– Yêu cầu ghe cập vào chiến hạm.
Toán khám xét lên chiếc ghe, dồn ba người ngồi gom lại ở mũi. Một thủy thủ canh chừng với khẩu M16.
Võ Bằng giao tàu cho Hạm Phó Tiến, xuống boong trước. Anh yêu cầu chủ ghe qua gặp.
Ông ta ở khoảng tuổi năm mươi. Khỏe mạnh, da cháy nắng.
Anh hỏi:
– Giấy tờ đâu?
Chủ ghe đưa bọc nhựa. Võ Bằng nhận nhưng không xem, hỏi tiếp:
– Sao thấy tàu lại bỏ chạy?
Ông gật đầu, đáp nhỏ, giọng Huế:
– Thưa, đâu có bỏ chạy, chúng tôi đi đánh cá.
– Đánh cá ở ngoài khơi?
– Dạ, trong bờ không có cá lớn.
– Các anh ra đây từ mấy giờ?
– Dạ, từ sáng sớm.
– Xuất phát từ đâu?
– Dạ, từ phá Tam Giang.
– Sao không đánh cá trong phá?
– Như tui nói, không có cá lớn.

Võ Bằng mở bọc nhựa.
Thẻ Căn Cước: Cảnh Sát Trưởng Quận 1, Huế, ký tên đóng dấu. Giấy hành nghề đánh cá: Quận Trưởng Quận 1, ký tên đóng dấu. Sổ ghe đăng bộ: Ty Ngư Nghiệp ký. Một tờ giấy giới thiệu, nội dung viết ngắn gọn: “Yêu cầu quý đơn vị dành mọi thuận lợi cho ngư thuyền hành nghề. Rất cám ơn.” Ký tên: Nguyễn An Cư, Trưởng Ty Ngư Nghiệp.
Võ Bằng đọc xong, ngẩng lên, chăm chú nhìn người chủ ghe:
– Anh quen biết ra sao với ông Trưởng Ty Ngư Nghiệp?
– Dạ, bà con. Ông ấy hùn hạp làm ăn chung.
Võ Bằng nhìn ông ta thật lâu. Chuyện các quan chức hùn hạp không lạ. Đồng lương quá thấp, phải kiếm thêm bằng hình thức hợp pháp là chuyện bình thường. Anh không hỏi thêm.

Đúng lúc anh định trả lại giấy tờ, cho ghe đi thì có tiếng Trung Úy Tuấn la to từ ngư thuyền:
– Thưa Hạm Trưởng, tìm thấy một máy truyền tin PRC10, giấu kỹ trong khoang.
Máy được chuyển tới Võ Bằng. Anh cho gọi nhân viên vô tuyến.
Võ Bằng giữ giọng bình thường, hỏi chủ ghe:
– Đánh cá… mà có máy vô tuyến?
Ông ta không trả lời. Võ Bằng gằn giọng:
– Ai đưa cho anh máy này? Ông Trưởng Ty?
Chủ ghe lặng thinh.
Võ Bằng cho lệnh mở máy PRC10. Vô tuyến viên vặn nút. Tiếng rè rè phát ra. Máy còn tốt. Chợt có giọng phụ nữ trong trẻo vang lên:
– Nghe đây.
Võ Bằng thấy mồ hôi trên trán chủ ghe. Tiếng nói lại phát ra:
– Nghe rõ. Nói đi.
Võ Bằng giật mình. Tiếng nói nghe quen quá. Như tiếng nói của Mai Chi. Anh đưa ống liên hợp cho chủ ghe:
– Anh trả lời.

Người chủ ghe bất ngờ lao tới hút mạnh vào vai Võ Bằng. Thân anh va vào dây an toàn, suýt bật ngửa văng xuống biển.
Anh hô to:
– Bắt nó!
Hai thủy thủ đứng gần phóng theo, nhưng đã muộn. Người chủ ghe thoát về phía mũi, nhảy ùm, mất dạng. Hai người bên ghe cũng bật dậy, nhảy theo. Anh lính gác chĩa súng bắn trọn băng đạn.
Mọi người nhốn nháo chưa biết làm gì thì Võ Bằng quát:
– Toán xét ghe về tàu ngay.
Anh ngửa mặt, la to:
– Đài chỉ huy. Cho lùi tàu.
Chiến hạm tách khỏi ghe, khoảng cách xa dần. Năm phút sau, không gian vẫn im lắng. Điều anh sợ không xảy ra: ghe không gài chất nổ. Anh nhìn mặt biển chờ ba ngư dân nổi lên. Chỉ thấy chủ ghe, hai người kia biệt tăm, biển nhuộm đỏ một khoảnh.
Võ Bằng cho vớt lên, trói chủ ghe vào trụ sắt ở mũi. Anh trình báo sự việc về Bộ Tư Lệnh Vùng. Chỉ thị nhận được nhanh chóng: bàn giao ghe, máy móc, tài liệu và người cho Duyên Đoàn 13. Điểm hẹn tại cửa Tư Hiền.
Một tiếng sau, việc bàn giao hoàn tất.
Trung Úy Tuấn nhận phiên hải hành, tiếp tục tiến về cửa Việt.

***

Bữa cơm trưa diễn ra trễ nửa tiếng, trong không khí nhộn nhịp bàn tán sự việc xảy ra. Chủ ghe tự sát, chứng tỏ đang đảm nhận công tác thật quan trọng. Điều rõ ràng nhất, kết luận chung, là ghe đó hoạt động cho Việt Cộng. Máy PRC10 dùng để báo cho các tàu xâm nhập khi cửa Tư Hiền và cửa Thuận An bỏ trống tuần phòng. Hoặc chuyển tin tình báo. Võ Bằng lan man nghĩ về giọng nữ từ máy truyền tin. Có phải của Mai Chi không? Nếu phải thì sao?
Thiếu Úy Quang hỏi nhỏ:
– Họ liên lạc với ai?
Hạm Phó nhún vai:
– Thì với người ở đầu máy bên kia.
Giọng Hạm Phó nghiêm trang nhưng ai cũng cười.
Võ Bằng thân mật:
– Kỳ họp hành quân tới, tôi sẽ hỏi cặn kẽ rồi cho anh em biết. Bây giờ, qua đề tài khác.

Như chờ dịp, Thiếu Úy Ngô Quang lên tiếng tức khắc:
– Thưa Hạm Trưởng, nếu tôi nhớ không lầm, cửa Tư Hiền, ngày xưa mang tên cửa Tư Dung, là nơi công chúa Huyền Trân từ giã nước Đại Việt về làm vợ vua Chiêm Thành Chế Mân?
Võ Bằng nhìn quanh:
– Ai biết thì trả lời.
Thiếu Úy Lũy:
– Rất đúng. Cửa Tư Hiền là một trong hai cửa biển của hệ thống đầm dọc theo bờ biển dài gần 70 cây số mà tàu chúng ta đang ngang qua. Đó là phá Tam Giang, đầm Hà Trung, đầm Thủy Tú, đầm Cầu Hai. Cửa biển kia là Thuận An.
Thiếu Úy Quang nôn nóng:
– Người Huế có khác, quá rành rẽ. Nhưng vẫn ngoài chủ đề. Tôi muốn biết có phải cửa Tư Hiền, trước kia có tên là cửa Tư Dung?
Thiếu Úy Lũy nhởn nhơ kể tiếp:
– Khi vùng đất này còn thuộc Chiêm Thành, cửa Tư Hiền mang tên Ô Long. Đến năm 1306, vùng đất là quà cưới công chúa Huyền Trân của Chế Mân, cửa Ô Long đổi tên thành Tư Dung để ghi nhớ nơi công chúa xinh đẹp dừng chân nghỉ ngơi trên đường về Chiêm Thành. Nhưng nhiều năm sau, dưới triều vua Thiệu Trị, nhà vua đổi thành Tư Hiền mang nhiều ý nghĩa hơn: nhớ hiền tài.

Võ Bằng hỏi:
– Thiếu Úy Quang thỏa mãn?
Quang cười:
– Thưa Hạm Trưởng và quý huynh, nhắc đến phá Tam Giang, tôi nhớ hai câu ca dao: “Thương em, anh cũng muốn vô, Sợ truông Nhà Hồ, sợ phá Tam Giang”. Hai địa danh đó có ý nghĩa gì?
Giọng Huế của thiếu Úy Lũy xác nhận thẩm quyền của người trả lời:
– Ở Huế, ai cũng biết ý nghĩa của nó. Truông nhà Hồ là một lối đi trong rừng Vĩnh Linh, Quảng Trị, thường có bọn cướp chận đường. Còn phá Tam Giang là nơi giao nhau của ba dòng sông, thường có sóng lớn gây nguy hiểm cho thuyền bè. Tuy nhiên lại là nơi ngắm hoàng hôn đẹp nhất.
Thiếu Úy Quang hỏi:
– Anh Lũy chắc đã có dịp ngắm nhiều lần?
Lũy lắc đầu:
– Chưa. Chỉ mới ngắm qua hình.
Lại nhiều tiếng cười rộ. Rồi lặng im ăn uống.

Lúc tráng miệng, Võ Bằng nói:
– Nhân nhắc đến Huyền Trân công chúa, chúng ta thử bàn về sự kiện vua Việt gả con cho vua Chàm để đổi lấy châu Ô, châu Lý. Các anh em nghĩ thế nào?
Hạm Phó Tiến hăng hái lên tiếng:
– Thưa Hạm Trưởng, tôi thấy vua Trần Nhân Tông… tàn nhẫn với con quá. Dân tình đã có câu ta thán: “Tiếc thay cây quế giữa rừng. Để cho thằng Mán, thằng Mường nó leo!”
Trung Úy Tài:
– Tôi đồng ý với Hạm Phó. Xem ra thật… nhục quốc thể!
Võ Bằng mỉm cười:
– Cả hai anh đều đúng, xét về mặt đạo đức. Nhưng xét về mặt chính trị, một hy sinh cá nhân mà có được một dải đất mênh mông, thì là một việc rất nên làm. Thử tưởng tượng, nếu không có sự hy sinh của công chúa, ta đem quân đánh chiếm hai châu này, tức hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên ngày nay, có phải tốn biết bao xương máu binh sĩ? Đây chính là lý do nhiều nơi dân chúng lập đền thờ công chúa Huyền Trân. Các anh có đồng ý không?
Không ai trả lời nhưng đều gật gù.

Võ Bằng uống cạn ly đá lạnh, lại lên tiếng:
– Còn chuyện tình Huyền Trân – Trần Khắc Chung, các anh em nghĩ sao?
Hạm Phó Tiến lại xông xáo:
– Tôi thấy chả có gì gọi là mối tình… Các nhà văn, nhà viết tuồng chỉ bịa chuyện cho lâm ly để câu độc giả, khán giả mà thôi!
Thiếu Úy Lũy:
– Xin Hạm Phó chứng minh.
Hạm Phó Tiến trầm ngâm như sắp xếp ý tưởng, rồi nói:
– Có nhiều minh chứng:
Thứ nhất, xét việc tướng tài Trần Khắc Chung đại diện nước Đại Việt đi Chiêm Thành. Trên danh nghĩa là chia buồn cái chết của vua Chế Mân nhưng mưu đồ là tìm cách đưa Huyền Trân về nước, tránh bị hỏa táng theo chồng. Rõ ràng là một sự kiện thậm vô lý. Việc hỏa táng hẳn phải diễn ra trong vòng mươi ngày sau khi Chế Mân chết. Trong khi đó thời gian Chiêm Thành cho người đi Thăng Long báo tin bằng ghe chèo cần ít nhất ba tháng. Cộng thêm ba tháng Trần Khắc Chung lên đường đi chia buồn. Đâu lý do gì Chiêm Thành chờ sáu tháng mới hỏa táng?

Hạm Phó ngưng uống nước. Thiếu Úy Lũy nóng nảy:
– Xin tiếp.
– Thứ hai, theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, tục lệ Chiêm Thành khi vua mất thì hoàng hậu phải lên giàn hỏa thiêu. Sách ghi rõ chỉ chánh thất mới được vinh dự đó. Huyền Trân là vợ thứ ba. Cũng trong sách này có ghi chép: “Mùa thu năm 1308, công chúa Huyền Trân từ Chiêm Thành về nước. Thượng hoàng sai trại chủ Hỏa Châu cho thuyền đưa 300 người Chiêm trở về Đồ Bàn”. Câu đó chứng tỏ Huyền Trân không bị hỏa táng mà còn được Chiêm Thành cho ba trăm người tiễn đưa an toàn về đến tận Thăng Long.
Hạm Phó nhìn Thiếu Úy Lũy chờ ý kiến. Lũy cười:
– Xin tiếp tục.
– Thứ ba, Trần Khắc Chung năm đó đã là sáu mươi, Huyền Trân mới hai mươi, không thể có chuyện tư tình công khai giữa chốn ba quân. Hơn thế nữa, Huyền Trân đang chịu tang chồng, đang đau đớn xa đứa con hai tháng, vui thú gì nghĩ chuyện yêu đương!
Hạm Phó trao Thiếu Úy Lũy cái nhìn trêu chọc, rồi tiếp:
– Thứ tư, Huyền Trân là con của một vị vua anh minh, một thiền sư sáng lập môn phái, chắc chắn là rất khắt khe với luân thường, đạo lý. Nếu là một đứa con hư hỏng, công chúa đã không xin cha đi tu mang pháp danh Hương Tràng. Bà vừa tu hành vừa dạy dân dệt vải và làm thuốc chữa bệnh. Dân chúng đã hết sức tôn kính bà, lập đền thờ.

Thiếu Úy Lũy xoa tay:
– Bái phục Hạm Phó!
Võ Bằng gật đầu:
– Tôi hoàn toàn tán đồng ý kiến của các anh em. Cũng như tôi rất ưa thích ca khúc Nước Non Ngàn Dặm Ra Đi của Phạm DuyBản này được nhiều người hát, nhưng chỉ có hai giọng ca Thái Thanh và Duy Khánh trình bày tâm sự Huyền Trân thấm thía nhất.
Có tiếng nhao nhao:
– Hạm Trưởng hát cho nghe đi.
Võ Bằng cười:
– Tôi đã nói chỉ có Thái Thanh và Duy Khánh…
Đợi tiếng phản đối chấm dứt, Võ Bằng tiếp:
– Có một bài ca khác, cũng nói lên tâm sự của dân Chàm mà tôi tin các anh em đều đã có dịp thưởng thức. Hẳn ai cũng biết, sau Chế Mân, dân Chàm có một vị vua tài ba lừng lẫy, từng mấy lần đánh chiếm Thăng Long, làm vua tôi Đại Việt chạy tán loạn. Nhưng cuối cùng lại bị một tướng trẻ có tên gần giống Trần Khắc Chung là Trần Khát Chân, giết chết. Đế chế Chiêm Thành suy tàn, kinh đô Đồ Bàn hoang phế. Cuối cùng hậu duệ Chế Linh cam đành rên rỉ Hận Đồ Bàn.

Mọi người cười rần. Không thấy ai thêm ý kiến, Võ Bằng chậm rãi nói:
– Câu chuyện công chúa Huyền Trân lấy vua Chế Mân, gợi tôi nhớ một chuyên vương giả khác, cũng một công chúa lấy một vị vua. Kết cuộc cũng giống nhau: buồn não nuột…
Trung Úy Tài nôn nóng:
– Xin Hạm Trưởng kể cho nghe.
– Năm 1786, quyền lực nằm trong tay chúa Trịnh, vua Lê Hiển Tông trở thành bù nhìn. Nguyễn Huệ tiến quân ra bắc với danh nghĩa “Phù Lê diệt Trịnh”. Sau thành công mỹ mãn, Nguyễn Huệ được vua Lê Hiển Tông gả công chúa Ngọc Hân. Chàng đưa nàng về Phú Xuân, Huế. Sống hạnh phúc bên nhau chỉ được sáu năm, Nguyễn Huệ đột ngột qua đời.
Có tiếng xuýt xoa. Hạm Phó Tiến lên tiếng;
– Nếu so sánh hoàn cảnh của hai công chúa sau khi chồng chết thì công chúa Huyền Trân may mắn hơn nhiều. Bà đi tu, giúp đời. Còn Công chúa Ngọc Hân chết trẻ – mới 29 tuổi – mà cũng không được yên mồ yên mả. Mộ của Ngọc Hân bị Gia Long phá hủy, hài cốt ném xuống sông. Hai con của bà bị xử trảm, thây ném xuống biển.
Thiếu Úy Lũy chen lời:
– Trường hợp Trần Khát Chân cũng rất thảm thương. Năm 1398, Hồ Quý Ly bắt vua Thuận Tông nhường ngôi cho con trai mới 3 tuổi để dễ bề khuynh loát. Cái xót xa là tuy nhường ngôi rồi, vua Thuận Tông vẫn bị Hồ Quý Ly giết chết. Trần Khát Chân thấy vậy, họp các tướng, bàn cách mưu sát Hồ Quý Ly. Việc bại lộ, Hồ Quý Ly thẳng tay giết Trần Khát Chân và 370 người gọi là đồng lõa. Sau đó, Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần.
Võ Bằng thở dài:
– Thôi, hôm nay đến đây là quá đủ. Còn gì thắc mắc, bàn tiếp vào bữa cơm tối.
Anh rời phòng ăn, về phòng riêng, đánh một giấc, sẵn sàng cho một đêm giới tuyến, có thể sẽ thức trắng…

Vũ Thất

(Còn tiếp)

* 30 độ so với trục tàu.








HUẾ MƠ - Thơ Songquang và Thơ Họa

                      

     HUẾ MƠ

Huế mộng chiều nay tôi ghé ngang

Hồi chuông Thiên Mụ vẳng đưa sang

Như lời cảnh tỉnh ru khe khẽ

Tựa giọng trầm tư nhắc nhẹ nhàng

Đỉnh tháp uy nghi làn khói tỏa

Dòng sông (Hương) trầm mặc ánh chiều loang

Tâm hồn lắng đọng lòng xao xuyến

Ngơ ngẩn say rời … cõi thế gian

Songquang

 20260322

    ( lần đầu đến Huế )


Thơ Họa:

  HOÀI NIỆM HUẾ THƠ

         (Hoán vận)

Một lần đến Huế, xuống đò ngang

Leo lẻo dòng Hương đưa khách sang

Thiên Mụ trầm rung chuông chùa thỉnh

Hoàng Thành cổ kính khói sương loang

Lam xanh mờ ảo trôi lờ lững

Áo tím mộng mơ sóng nhịp nhàng...

Dịu ngọt nắng chan hòa Đại Nội

Kinh Đô choáng ngợp cả không gian!

Nguyễn Huy Khôi

     22-3-2026

 

      THĂM HUẾ

Trời đã xế chiều, vệt nắng loang

Cả ngày rong ruổi dọc và ngang

Hoàng Thành, mỏi mắt còn mê mẩn

Lăng Tẩm, nhanh chân khỏi nhỡ nhàng

Cầu ngói Thanh Toàn sương phủ xuống

Vườn rừng Bạch Mã gió lùa sang

Thiên An thiền viện khơi lòng thiện

Rũ bỏ tâm tà, dạ dối gian.

  Sông Thu

( 22/03/2026 )

 

 HUẾ ĐẸP - HUẾ THƠ

Xứ Huế Trường Tiền Cầu bắc ngang

Sông Hương gợn sóng chuyến đò sang.

Tiếng Chuông Thiên Mụ ngân theo gió...

Âm vọng theo chân bước nhịp nhàng.

Núi Ngự xanh rì sương khói tõa,

Xuôi dòng sông nước nắng vàng loang...

Thả hồn mơ mộng theo lời nhạc...

Huế đẹp Huế thơ ở Thế gian.

Mỹ Nga

  22/03/2026  ÂL,05/02/ Bính Ngọ

 

  HUẾ CỦA PHU QUÂN

         ( họa 4 vần )

Huế thuở xa xưa đò dọc/ngang

Học trò  Thành Nội sáng chiều sang

Sông Hương lờ lững thuyền trôi mãi

Núi Ngự thẩn thơ mây tản nhàng

Nhớ quá chuông ngân chùa Ngọc Bảo

Thương hoài gà gáy Thọ Xương loang

Lâu đài Lăng tẫm… giờ di tích

Huế của phu quân, nước mắt tràn…

Kiều Mộng Hà

March.22.2026

 

   CỐ ĐÔ TRẦM MẶC

Cố đô văn vật một lần ngang

Cảm xúc trong lòng vẫn mãi loang

Núi Ngự uy nghi chồn gối ngoạn

Sông Hương lãng mạn lụy đò sang

Tiếng chuông Thiên Mụ hồi văng vẳng

Vệt nắng Ngọ Môn bóng nhỡ nhàng

Cổ sử còn in thềm Đại Nội

Oai hùng trầm mặc dấu thời gian.

CAO BỒI GIÀ

   22-3-2026

 

  VIẾNG CHÙA LINH MỤ

Kim Long cập bến, chuyến đò ngang

Linh Mụ lặng trầm đón khách sang

Tháp Phước Duyên trời xanh lộng lộng

Đình Hương Nguyện khói trắng loang loang

Chuông trong diệu hữu ngân vời vợi

Mõ giữa thinh không thả nhịp nhàng

Đỉnh Ngự bồng bềnh mây tạm trú

Dòng Hương nắng rọi bóng thời gian

Lý Đức Quỳnh

    23/3/2026 


        NHỚ HUẾ

Trường Tiền gốc phượng chiếc cầu ngang

Áo trắng tan trường nhộn nhịp sang.

Thấp thoáng cô em người mảnh khảnh

Thướt tha dáng liễu nét làng nhàng (*)

Trầm hùng Thiên Mụ hồi chuông vọng

Lấp lánh ráng chiều khói sóng loang.

Thạch mã chân què sương nắng khứa

Ngậm ngùi lữ khách nước thời gian !

   Mailoc

03-22-2026

(*) Làng nhàng: mơ hồ, trung bình, không đẹp không xấu.


   KỶ NIỆM THĂM HUẾ

Trường Tiền mười hai nhịp vắt ngang,

Thiên Mụ chuông chùa vọng tiếng sang.

Âm tợ khắt ghi lòng định tỉnh,

Ngân như nhắc nhở ý hiu nhàng.

Uy nghi tháp định bình yên chốn,

Trầm mặc Hương giang ánh sóng loang.

Viếng Huế một lần lưu nhắc mãi,

Mơ màng cõi tạm kiếp trần gian!

HỒ NGUYỄN

  (23/3/2026)

 

CƠN BÃO HUẾ

   ( xin hoạ 4 vần )

Sương bay áo cưới xuống đò ngang

Gia Hội đưa dâu đón rể sang

Người trưởng thành trong cơn Huế bão

Hồn vương giả giữa chốn Thiên đàng

Thế là từ chỗ tình riêng lấn

Tiếp tới lên đường nghĩa bạn loang

Lăng tẩm theo nhau về ám ảnh

Ngự viên huyễn hoặc một không gian …

Rancho Palos Verdes  23 - 3 - 2026

CAO MỴ NHÂN

 

         BÀ MỤ 

Khắc khoải làng xưa, lòng ngổn ngang

Bao năm đau đáu những mùa sang

Xa rời, bứt rứt tâm hoài nhói

Trở lại, an nhiên trí vợi nhàng

Vọng tiếng chuông ngân, lan rộng khắp

Nghe lời kinh kệ, thoảng trầm loang

Sông Hương, Núi Ngự nên thơ lắm

Linh Mụ Chùa, ”Bà Mụ“ cõi... gian !

PHƯỢNG HỒNG

 

  MỘT LẦN QUA HUẾ

Công tác hành trình được rẽ ngang

Đầu trò Thiên Mụ nợ duyên sang

Lùm tre phở chín tình êm ái

Tiếng ngợ trà đen nghĩa nhịp nhàng

Buổi diễn Hương dòng hồn lảng đảng

Nến hồng Giang sóng nước loang loang

Chẳng còn chi nữa nay cầm bút

Mười chín năm rồi chẳng ý gian.

     03 - 2026

Tran Nhu Tung

 

    HUẾ MỘNG MƠ

Huế mơ Thành Nội ghé thăm ngang

Thiên Mụ chùa chuông vọng tiếng sang

Giọng hát êm ru tình lắng đọng

Lời ca khe khẽ cảm thanh nhàn

Uy nghi lăng tẩm sương mờ mịt

Trầm mặc cố đô khói toả loang…

Lắng đọng tâm tư già luống tuổi

Trần ai thế tục cõi nhân gian…

Mai Xuân Thanh

Silicone Valley March 23, 2026 


CHUYỆN NHÀ MẸ HUẾ

Mẹ Huế gọi trai về xóm Ngang

Hiền hòa, cái Ngự nó luôn sang

Chăm chăm thái chuối heo khang khái

Rủ rỉ bên tai chuyện nhịp nhàng

Con thích bởi yêu làn gió mát

Nó yêu vì thích giọt dầu loang

Ngày mai dạm hỏi cho chu tất

Chậm nữa nghi rằng có kẻ gian

    03 – 2026

Tran Nhu Tung 


         RA HUẾ

Lữ khách qua sông một chuyến ngang

Đêm rằm hỏi nguyệt có cùng sang ?

Chuông chuà Thiên Mụ vừa vang vọng

Âm sắc trầm tư trải nhịp nhàng

Bậc cấp thênh thang dường bước mỏi

Hương trầm thoang thoảng nhẹ bay loang

Tới đây chợt thấy lòng thanh thản

Như đã quên đời cảnh dối gian !

THIÊN LÝ