Thứ Tư, 28 tháng 6, 2023

TỪ KHI -Thơ Songquang và Thơ Họa

       

      TỪ KHI

Từ em… gặp gỡ ở nơi này

Khiến trái tim ta bỗng quắt quay

Ánh mắt nồng nàn làm quyến rũ

Làn môi xinh xắn nhoẻn thơ ngây

Dịu dàng tiên nữ lòng mơ ước

Duyên dáng hằng nga dạ đắm say

Cảm mến dung nhan người thục nữ

Đêm về thao thức mộng dâng đầy

Songquang

20230610


Thơ Họa: 

 NHỚ NGƯỜI XƯA

Dạo bước lang thang ở chốn này

Nhớ người yêu cũ đến cuồng quay

Dung nhan, hình dáng làm xao xuyến

Ánh mắt, nụ cười khiến ngất ngây

Tình mới ươm mơ đà đắm đuối

Tâm vừa dệt mộng đã nồng say

Nhưng rồi... biền biệt bao năm tháng

Nay trở về đây luyến tiếc đầy.

   Sông Thu

( 11/06/2023 )

 

   VẤP CHỚP

Vấp "tia chớp mắt" loạn tim này

Đầu óc bàng hoàng cứ chóng quay

Lấp láy mi huyền xui dạ tưởng

Nồng nàn môi nụ khiến hồn ngây

Đảo Bồng hương ngậm, huê càng đắm

Tóc liễu tơ xòa, nguyệt cũng say!

Dùng dắng từ ly lòng trộn rộn

Tương tư sầu muộn chất vơi đầy!

     11-6-2023

Nguyễn Huy Khôi

 

   BỖNG GẶP

Bỗng gặp nàng ơi ở chốn này,

Bàng hoàng ta thấy mắt mờ quay.

Biết em xinh xắn lòng thân thiết,

Bừng nét tinh anh dạ ngất ngây !

Bình thuỷ tương phùng tâm trí luyến,

Ba sinh gặp gở tấm tình say !

Bâng khuâng một thuở hồn xao xuyến,

Bừng tỉnh ồ ra… giấc mộng đầy !

Liêu Xuyên

 

      MỘNG VỠ

Chỉ đợi mình em giữa phố này

Sao nàng lỗi hẹn bước đành quay!

Lời yêu thủa ấy trao tình thật

Bậu tỏ hôm nào khiến dạ ngây

Nỗi nhớ khôn cầm mong nghĩa dệt

Môi cười xinh xắn gợi lòng say

Tàn canh lệ đẫm niềm tin dứt

Sưởi ấm hồn côi rượu rót đầy!

 Như Thu

06/10/2023

 

MỘNG ẢO NĂM NAO

Năm ấy… gặp em ở chốn này,

Tim bình anh bổng lắc lơ quay.

Môi nồng đưa kéo hồn ngơ ngẩn,

Mắt thắm liếc nhìn dạ ngất ngây.

Dáng dấp dẻo dai gây ảo tưởng,

Tóc mây lơi xỏa khiến tình say.

Mơ màng khiến giấc không yên ổn,

Ước muốn dâng cao chất ngập đầy.

                       *

Ngoài em đâu thấy có còn ai?

HỒ NGUYỄN

 (11-6-2023)

 

       TỪ ẤY

Lạ quá sao ta đến chốn này?

Rõ là trái đất vẫn vòng quay!

Kỳ duyên hội ngộ nhìn khôn nói,

Đất lạ quen nhau lặng đứng ngây.

Có phải kèm nhèm vì nắng quáng?

Hay là khật khưỡng bởi men say?

Trời xui đất khiến nên đôi bạn,

Từ ấy tình ta càng chất đầy.

Đỗ Quang Vinh

  11-6-2023

 

         TÌNH SI

Dưng nhiên cuồng loạn trái tim này

Không rượu mà sao thấy đất quay

Người đẹp vừa cười xô hắn ngã

Men tình chửa nếm quật ta say

Trời ban ngọc quý liều ôm chặt

Sét đánh hồn nào chẳng chết ngây

Ngấu nỗi tương tư trào mỹ ngữ…

Thơ văn bút thả vạn trang đầy….

CAO BỒI GIÀ

 11-06-2023

 

     BUỔI ĐÓ 

Gặp gỡ hôm xưa ở chốn này

Thời gian thoăn thoắt chạy như quay

Làn môi tươi thắm cười man dại

Ánh mắt giao hoà ngó ngất ngây

Bẽn lẽn lời trao như mộng mị

Ngập ngừng tiếng gọi tưởng mê say

Hỡi ơi tình muộn mà chan chứa

Mỗi phút giây qua một nhớ đầy ...

       Rancho Palos Verdes  11 - 6 – 2023

CAO MỴ NHÂN

 

TIẾNG SÉT ÁI TÌNH

Có phải duyên thiên tại chốn này

Chợt trông lòng tợ cuộn tơ quay

Hồn nhiên sinh động tâm đờ đẫn

Hoạt bát đa tình dạ ngất ngây

Em đến ru đời ta lạc lối

Chập chờn mê tỉnh giữa cơn say

Yêu đương mật ngọt sắt cầm mãi

Hạnh phúc miên man ý trọn đầy

Hưng Quốc

      Dallas 6-12-2023

 

       KHI VỀ

Chán phố về quê rảo chốn này

Ngắm diều chao lượn vút đuôi quay

Tầng không hút mắt vào thăm thẳm

Tuổi bé phiêu hồn đến ngất ngây

Vắt vẻo ngang trời hoài ngợp đằm

Bồng bềnh giữa gió mãi tràn say

Ngoài sông bất chợt nghe ai hát

Khiến gã quên yêu… rạo rực đầy.

Lý Đức Quỳnh

   13/6/2023

    Nhớ Nhà 
Biệt xứ ra đi ở chốn này 
Quê nhà nghĩ tới nhớ cuồng quay 
Làn mưa lớp kính hồn bay bổng 
Bóng nắng mây trời mắt dại ngây 
Thửa ruộng triền đê màu lúa thắm 
Giàn Hồng xóm hạ sắc cành say 
Khung chiều trẻ nhỏ nô đùa chạy 
Dạo bước niềm mơ mộng chất đầy 
              Minh Thúy Thành Nội 
                 Tháng 6/17/2023








CHUYỆN XƯA BÀ KỂ -Thơ Sông Thu và Thơ Họa

       

CHUYỆN XƯA BÀ KỂ

Một hôm chiến mã bỗng quay về

Trước cổng gục đầu, hí thảm thê

 Vết máu trên lưng đà đặc cứng

Nỗi buồn trong mắt thật ê chề

Sa trường, tráng sĩ phơi thân xác

Biên giới, giặc thù đốt xóm quê

Căm phẫn, dân làng đi cứu nước

Ngoại xâm chưa diệt quyết không về !

   Sông Thu

( 19/06/2023 )


Thơ Họa:

     LỜI THỀ CHINH CHIẾN

Ngựa yếu từ xa chạy trở về

Trên mình yên bể kéo lê thê

Máu loang một vệt đà khô cứng

Cặp mắt  buồn trông ê với chề

Chiến sĩ sa trường đành bỏ xác

Hận thù lũ giặc phá đồng quê

Nhân dân phẫn nộ thề chinh chiến

Rợ Bắc chưa lui quyết chẳng về !

Paris, 19/06/2023

     TRỊNH CƠ

 

    CẢM ĐỀ

Mã đáo, sao anh chẳng trở về

Hung tin tan nát dạ hiền thê!

Bi thương hờn oán thù mang nặng

Xa xót sầu đau hận ứa chề!

Trăng dãi sa trường lòa chiến địa

Khói mờ bản quán lạnh làng quê

Triệt nòi bành trướng quen xâm lược

Chặn đứng đường lui hết nẻo về!

      19-6-2023

Nguyễn Huy Khôi

 

QUYẾT ĐUỔI GIẶC THÙ

Chiến mã trên lưng bỗng trở về,

Trả thù vọng tiếng gọi lê thê.

Máu dồn dạ ứ nghe tê tái,

Hận chất tim đau chật chán chề.

Chiến sĩ thân rơi phơi khắp nẻo,

Dân lành xác ngập phủ vùng quê.

Non sông phựt nổi bao thù hận,

Chưa đuổi xâm lăng quyết chẳng về.

                       *

Chuyện xưa bà kể xót đau tê.

HỒ NGUYỄN

  (19-6-2023) 

 

CHUYỆN HẮN TRỞ VỀ

Một tối mùa Xuân hắn trở về,

Mặt mày xơ xác vẻ lê thê !

Mang danh thất trận dù cay đắng,

Mỏi mệt sầu thương quá chán chê !

Mái ấm gia đình tan tộc họ,

Mảnh tình phu phụ biệt làng quê !

Mất giang sơn phải thân tù tội…

Mù mịt tương lai khó trở về !

Liêu Xuyên

 

      ĐỔI THAY

Viễn xứ bao năm mới trở về

Nao lòng thăm lại xóm làng quê

Vườn xưa hoang vắng nhìn cay đắng

Rừng cũ tiêu sơ thấy chán chề

Niềm xót kéo dài như bất tận

Nỗi buồn cô đọng cứ lê thê

Tiền nhân để lại giang sơn đẹp

Thay đổi… giờ đây chẳng thiết về

Songquang

20230619

 

NHỚ CHUYỆN XƯA “BÀ KỂ”

Vó ngựa bất kham đã trở về

Trên yên mẻ bể kéo lê thê

Áo bào thấm đẫm đông khô cứng

Chiến mã thương đau lại não nề

Tướng sĩ chinh phu rời trận mạc

Quân thù xâm lược chiếm thôn quê

Anh em bất khuất lòng nung nấu…

Cứu nước xung phong sớm trở về…!

      MAI XUÂN THANH

San Francisco, June 19, 2023

 

CHUYỆN NGỰA VỀ 

         ( Hoạ 4 vần )

Ngựa hồng rũ liệt chở tin về

Cuốn ánh dương tàn, bóng thiết thê

Yên vắng võ quan như huyễn hoặc

Vó buồn chiến mã vẫn đam mê

Sa trường khói lửa tràn biên ải

Trận mạc binh đao ngập nẻo quê

Tiếng hí não nùng sầu tử biệt

Miên man xích thố lạc quân về…

Utah  19 - 6 - 2023

CAO MỴ NHÂN

 

CHUYỆN TRẢI QUA

Ra đi đã hứa sẽ không về

Bốn mấy năm dài thảm thiết thê

Cha mẹ qui thiên đành bất hiếu

Anh em cắt dạ đớn đau chề

Gia tài chúng cướp còn chi nữa

Đày đoạ thân còm trên mảnh quê

Ám ảnh sắc sâu khi nhớ đến

Ân tình nhuộm đỏ ớn thôi về …

 Yên Hà

19/6/2023

 

CHÍ CẢ NAM NHI

      (Họa 4 vần) 

Cuộc chiến tràn lan khó thể về

Bên rèm sũng ướt lệ hiền thê!

U sầu ngóng đợi hồn chua xót

Lặng lẽ chờ mong dạ não nề

Tức tưởi thây nằm xen phố thị

Đì đùng súng nổ dậy làng quê

Đêm dài khắc khoải lòng luôn gợi

Chí cả nam nhi chửa muốn về!

 Như Thu

06/19/2023

 

      NGÀY VỀ

Từ nơi bom đạn bước chân về

Biết nói gì khi gặp ái thê?

Khó nhọc, chưa quen cây nạng gỗ

Ngập ngừng, dẫu thuộc ngõ làng quê

Phút giây hoan hợp tuồng tê cứng

Giọt lệ mừng vui quá não chề

Cuộc chiến hung tàn bao mất mát…

Ngậm ngùi, thôi vẫn có ngày về…

CAO BỒI GIÀ

  19-06-2023

 

THUỞ ẤY… THỜI NAY

         (Họa 4 vần)

Thuở ấy người đi chẳng hẹn về

Vuông tròn quý tử cậy hiền thê

Cờ tung gió chướng mờ quan ải

Ngựa cuốn sương lam thẳng một bề

Giữ nước muôn xưa ngời lệ sử

Gìn nhà vạn cổ đượm tình quê

Thời nay lắm kẻ mồm xoen xoét

Sở hữu ngôi cao, lợi gánh về…

Lý Đức Quỳnh

   20/6/2023


XÃ HỘI THỜI CHIẾN QUỐC

Ngựa hay Xích Thố đã trở về

Lữ Bố sa trường mả đáo thê

Chiến tướng biên thùy danh lẩm liệt

Cang Thương chinh chiến sử ê chề

Tranh hùng Hán Sở thời Tam quốc

Ái quốc Lưu Bang biền biệt quê

Nhiễu loạn non sông cơn thảm khốc

Cổ lai chinh chiến kỷ nhân về

Trần Đông Thành

 

CHIẾN MÃ KHÔNG NGƯỜI

         (Họa 4 vần)

Ngựa đến bên hiên, báo trở về,

Chủ đâu chiến mã hí lê thê!

Người ơi! Rèm mộng trùm sương trắng!

Đất hỡi! Mây đen phủ tứ bề!

Chiến trận thảm thương- hồn tử sĩ,

Non sông giặc chiếm- khổ lòng quê.

Đất bằng nổi sóng buồn thanh sử,

Căm hận ngoại xâm... quyết đuổi về.

Song Linh

20-06-2023

 

CHUYỆN XƯA BÀ KỂ

Tận chiến trường xa hãn mã về

Từ ngày cách biệt bến sông quê

Hương quan kẻ ở hờn chinh phụ

Biên ải người đi vọng ái thê

Nước đáp đền ân chàng trọn vẹn

Nhà chia cắt nghĩa thiếp ê chề

Lõng cương yên ngựa vừa khô máu

Báo đấng hùng anh chẳng trở về

Thanh Song ntkp

CA.June/19/2023

TB: Thật xin lỗi Sông Thu cùng quý huynh đệ tỷ muội, Bé Phú buộc lòng “mượn” lại chữ ê chề vì không cách gì né tử vận, biết là phạm khắc lục và đành hoán vận. Mong Sông Thu  cùng quý vị hoan hỷ.

 

      HUNG TIN

Chiến hữu biên cương chợt trở về,

Hung tin báo tử khổ hiền thê.

Ba lô máu dính còn loang lổ,

Áo trận đạn ghim đã rách chề.

Quốc biến chí trai mang nợ nước,

Gia vong phận gái nặng tình quê.

Toàn dân giặc đến đi tranh đấu,

Sạch bóng xâm lăng mới đón về.

  Mỹ Ngọc.

Jun. 20/2023.

 

NGỰA CHIẾN VÀ ANH HÙNG

Đẫm vết hằn lưng ngựa sải về

Rũ bờm, long móng, gót tàn thê

Quê cha gánh vác khôn tròn phận

Đất Tổ cưu mang chẳng vẹn thề

Não dạ nuốt cay lìa chốn cũ

Xoắn lòng ngậm đắng bỏ miền quê

Nằm gai nếm mật anh hùng quyết

Đuổi hết giặc hung, mã đáo về.

Phương Hoa

JUN 20, 2023


Vọng Chinh Nhân 

     (Họa 4vận)


Vó ngựa từ xa tiếng vọng về

Nhạc rền khua nhẹ kéo lê thê

Bóng Hồng chiến mã mờ sương khói

Kỷ nữ lầu xanh dạ tái tê

Bịn rịn chia tay ra hỏa tuyến 

Ngậm ngùi tái hợp chốn hương quê

Giặc thù còn đó muôn dân khổ 

Chiến sĩ tiền phương mãi chẳng về

Hưng Quốc 

Dallas 6-20-2023







Thứ Ba, 27 tháng 6, 2023

Tạp Ghi và Phiếm Luận : NHẤT là MỘT (Đỗ Chiêu Đức)

 Tạp Ghi và Phiếm Luận :

                             NHẤT là MỘT
 
                          
                    

   
        NHẤT là MỘT, Một là Nhất. NHẤT là chữ thuộc dạng Chỉ Sự đơn giản nhất, dễ viết và dễ nhớ nhất trong CHỮ NHO... DỄ HỌC. Có diễn tiến chữ viết như sau:

    Giáp Cốt Văn  Đại Triện   Tiểu Triện     Lệ Thư      Khải Thư
             
                  
Ta thấy :
          Dù cho có diễn biến như thế nào thì chữ NHẤT vẫn cứ là một phệt dài, một đoạn thẳng, một nét ngang. Thế nhưng, ông bà ta lại hay nói: "Cái thằng đó nó dốt đến không biết chữ NHẤT là MỘT". Truy nguyên câu nói trên thì ta mới biết rằng: À, thì ra chữ NHẤT tuy dễ viết, dễ nhớ, dễ thuộc, chứ trong ngôn ngữ sử dụng hằng ngày, chữ NHẤT không đơn giản tí nào cả! Vì NÓ mang đến 11 cách nói và sử dụng khác nhau như sau đây:

    1. NHẤT 一 : là số đếm, đơn vị nhỏ nhất của số nguyên, có dị bản phồn thể để ghi những con số quan trong cho không thể sửa đổi được như sau: 壹.
    2. NHT 一 : là Thuần, là Chuyên như "Nhất Tâm Nhất Ý 一心 一 意" là Một lòng một dạ,  là Thuần Nhất 純 一, là Chuyên Nhất 專 一.
    3. NHẤT 一 : là Cả, là Đầy, như "Nhất Sinh 一 生" là Cả cuộc đời; "Nhất Thế 一 世" là Cả đời; "Nhất Hồ Thủy 一 湖 水 là Một Hồ nước, là Đầy cả một hồ nước.
    4. NHẤT 一 : là Giống nhau như "Nhất Dạng 一 樣" là Một thứ, một kiểu;  "Màu sắc Bất Nhất 不 一" là Màu sắc không giống nhau.
    5. NHẤT 一 : là Ngoài ra như "Phi cơ Nhất Danh Thiết Điểu 飛 機 一 名 鐵 鳥" là Máy bay. Ngoài ra còn có tên là Chim sắt.
    6. NHẤT 一 : Chỉ các bộ phận kết nối lại thành một tổng thể  như "Thống Nhất 統 一,  Hợp Nhất 合 一, Đồng Nhất 同 一".
    7. NHẤT 一 : là Hoặc... Hoặc... như "Nhất sinh Nhất Tử 一 生一 死" có nghĩa "Hoặc là Sống hoặc là Chết"; "Nhất Thắng Nhất Phụ 一 勝 一 負" có nghĩa : Hoặc là ăn hoặc là thua.
    8. NHẤT 一 : là Cho (đến) như "Nhất chí vu thử 一 至 于 此" là "Cho đến thế nầy đây; Nếu phía sau thêm dấu hỏi(?) thì có nghĩa : Cho đến thế nầy sao?
    9. NHẤT 一 : là Một lần, Một cái... là Thăm dò như "Toán Nhất Toán 算 一 算" là "Tính thử  một cái xem sao"; "Thí Nhất Thí 試 一 試" là "Thử một cái xem sao"...
   10. NHẤT 一 : là Ký âm của một "nốt" nhạc. Theo nhạc lý Trung Hoa, Ngày xưa là âm "Si", ngày nay là âm "Đô".
   11. NHẤT 一 : là Mới, là Lần đầu, như "Nhất Kiến Như Cố 一見 如 故" là "Lần đầu gặp nhau mà như đã quen nhau lâu rồi; "Nhất Kiến Khuynh Tâm 一 見 傾 心" là "Mới gặp nhau thì đã phải lòng nhau liền".

      Các bạn thấy sao? Qua các nghĩa trên của chữ NHẤT, khiến cho câu nói "Dốt đến không biết chữ Nhất một" không còn là cách Nói Nhấn nữa, mà là một thực tế phải học hỏi. Nên chi quyển sách Huấn Mông Tam Tự Kinh 訓 蒙 三 字 經 ngày xưa, trong các bài đầu đã dạy ngay cho trẻ em chữ NHẤT và các số đếm:

    一 而 十,十 而 百, NHẤT nhi thập, Thập nhi bách,
    百 而 千,千 而 萬。 Bách nhi thiên, Thiên nhi vạn.
 Có nghĩa :
             Một rồi mười, Mười rồi trăm,
             Trăm rồi ngàn, Ngàn rồi vạn.
       * VẠN 萬 : Ta gọi là một Muôn = Mười ngàn.

      NHẤT 一 là số mở đầu cho các số đếm căn bản từ Một đến Mười. Mời đọc bài thơ "Sơn Thôn Vịnh Hoài 山 村 咏 懷" của Thiệu Ung 邵 雍 đời Tống. Bài thơ nầy cũng được dùng để dạy cho các trẻ em ngày xưa như sau:

                  一 去 二 三 里,    Nhất khứ nhị tam lý,
                  烟 村 四 五 家。    Yên thôn tứ ngũ gia.
                  亭 台 六 七 座,    Đình đài lục thất tọa,
                  八 九 十 枝 花。    Bát cửu thập chi hoa.
  Có nghĩa :
                 Một đi hai ba dặm,
                 Xóm nhỏ bốn năm nhà.
                 Đình đài sáu bảy cái,
                 Tám chín mười cành hoa !
     Lục bát :
               Một hai ba dặm đường làng,
               Bốn năm nhà nhỏ mơ màng khói sương.
               Đình đài sáu bảy bên đường,
               Tám chín mười đóa hoa hương đầy đồng !                                                             Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm
          
                    

       Đọc bài thơ trên lại làm cho nhớ đến bài ca dao "Mười Thương" của ta:

               MỘT thương tóc xõa đuôi gà,
               Hai thương ăn nói mặn mà có duyên.
               Ba thương má lúm đồng tiền,
               Bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua.
               Năm thương cổ yếm đeo bùa,
               Sáu thương nón thượng quai tua dịu dàng.
               Bảy thương nết ở khôn ngoan,
               Tám thương ăn nói lại càng thêm xinh.
               Chín thương cô ở một mình,
               Mười thương con mắt hữu tình với ai.
        
      NHẤT 一 là Một, nhưng lại cũng có nghĩa là Bao Trùm tất cả như câu đối Tết mà ta thường đọc thấy trong các ngày Xuân :

                一 元 復 始,   NHẤT nguyên phục Thủy,
                萬 象 更 新。   Vạn tượng canh tân.
Có nghĩa :
           Cả một bầu nguyên khí của trời đất trở lại lúc ban đầu, và...
           Muôn vạn hiện tượng đều thay da đổi thịt cho mới mẻ lại.

      NHẤT 一 là Một Giềng Mối như câu nói trong chương Lý Nhân của Luận Ngữ《論 語. 里 仁》: Tử Viết: "Sâm hồ, Ngô đạo NHẤT dĩ quán chi. 子 曰:“参 乎,吾 道 一 以 貫 之" Có nghĩa : Khổng Tử dạy rằng: Sâm này, Đạo của ta chỉ có Một Giềng Mối mà bao gồm tất cả!" Do câu nói nầy mà cụ ĐÀO TRINH NHẤT, một nhà văn, nhà báo, nhà nghiên cứu của ta đã lấy hiệu là QUÁN CHI là vì thế. 
                   
                        
    
       NHẤT 一 là Một, NHẤT PHIẾN BĂNG TÂM 一 片 冰 心 là một tấm lòng trong sáng như băng tuyết, như hai câu thơ nổi tiếng trong bài "Phù Dung Lâu Tống Tân Tiệm 芙 蓉 樓 送 辛 漸" của Vương Xương Linh đời Đường:

 洛 陽 親 友 如 相 問,   Lạc Dương thân hữu như tương vấn,
 一 片 冰 心 在 玉 壺.    NHẤT PHIẾN BĂNG TÂM tại ngọc hồ.
 Có nghĩa :
               Bè bạn Lạc Dương như có hỏi,
               Bình ngọc tuyết băng một tấm lòng! 

       Bài thơ trên còn là nguồn cảm hứng cho soạn giả Kiên Giang Hà Huy Hà soạn ra tuồng cải lương "Áo Cưới Trước Cổng Chùa", là chùa Phù Dung Tự 芙 蓉 寺 ở Kiên Giang với sư cô trụ trì đầu tiên là Xuân Tự. Câu thơ "NHẤT PHIẾN BĂNG TÂM tại ngọc hồ" được nhắc đi nhắc lại khi Xuân Tự bị nhốt vào trong cái lu. 

       NHẤT 一 là Một, Nhưng NHẤT NHẤT 一 一 không phải là "Một Một" mà có nghĩa là: Bất cứ cái gì đó, bất cứ việc gì đó. Ví dụ như: Trong công ty, NHẤT NHẤT đều phải do Giám đốc quyết định, chớ không được tự tiện làm ngang. 
       Chữ MỘT trong tiếng Nôm ta cũng thế, ngoài nghĩa là số 1 ra, MỘT còn được dùng để liệt kê. Như trong Truyện Kiều, khi biết Thúc Sinh chuộc Kiều từ lầu xanh về làm vợ lẻ, Thúc Ông đã "Sốt gan ông mới cáo qùy cửa công", và Quan phủ sau khi thẩm án đã "xử" rằng:
          
                  MỘT là, cứ phép gia hình,
                MỘT là, lại cứ lầu xanh phó về !

       MỘT LÀ chữ Nho là NHẤT VI 一 為, như trong bài thơ "Dữ Sử Lang Trung khâm thính Hoàng Hạc Lâu thượng xuy địch 與 史 郎 中 欽 聽 黃 鶴 樓 上 吹 笛" rất nổi tiếng của Thi Tiên Lý Bạch như sau:
 一 為 遷 客 去 長 沙,  NHẤT VI thuyên khách khứ Trường Sa,
 西 望 長 安 不 見 家。  Tây vọng Trường An bất kiến gia.
 黃 鶴 樓 中 吹 玉 笛,  Hoàng Hạc lâu trung xuy ngọc địch,
 江 城 五 月 落 梅 花。  Giang thành ngũ nguyệt Lạc Mai Hoa !
 Có nghĩa :
            MỘT LÀ bị biếm đến Trường Sa,
            Trông ngóng Trường An chẳng thấy nhà,
            Hoàng Hạc véo von vang sáo ngọc,
            Tháng năm còn thổi Lạc Mai Hoa !

      NHẤT còn có nghĩa là : HỄ... như trong thành ngữ "Nhất Kiến Chung Tình 一 見 鍾 情" có nghĩa: HỄ gặp một cái là chung tình liền; cũng có nghĩa là: HỄ vừa gặp mặt là yêu nhau ngay. Trong tiếng Việt ta gọi là "Tiếng sét ái tình", vì ta nói theo Tây là "Un coup de foude", còn như nói theo Mỹ là "Love at first sight" là "Yêu nhau ngay từ cái nhìn đầu tiên!"

     NHẤT là HỄ... "Hễ mỗi lần lên trên hương đài là đài thắp hương để nhìn chiều xuống, là ta sẽ thấy ngay ánh nắng chiều như còn lưu luyến trên tàn cây đơn độc của xóm cát xa xa, và chẳng thấy được bóng dáng của nhà sư ra khỏi núi xanh, mà chỉ nghe có tiếng chuông chùa văng vẳng như để tiễn chân khách ra về... Đó là nội dung của một bài thơ tứ tuyệt rất hay là "Sơn Trung Biệt Hữu 山 中 别 友" của Cao Khải, một thi sĩ đời nhà Minh như sau:
  一 上 香 台 看 落 暉,    Nhất thướng hương đài khán lạc huy, 
  沙 村 孤 树 晚 依 依.    Sa thôn cô thọ vãn  y  y . 
  老 僧 不 出 青 山 寺,    Lão tăng bất xuất thanh sơn tự,
  祗 有 锺 聲 送 客 歸.    Chỉ hữu chung thinh tống khách quy.
Có nghĩa :
               Lên tận hương đài ngắm tịch dương,
               Cây trơ xóm cát nắng chiều vương.
               Sư ông nhập định không rời núi,
               Vẳng tiếng chuông đưa khách dặm trường !
   Lục bát :
               Nắng chiều lên tận hương đài,
               Xóm xa bóng ngã cho dài hoàng hôn.
               Sư ông nhập định thả hồn,
               Ngân nga chuông tiễn khách dồn bước chân.
    
     祗 有 锺 聲 送 客 歸. Chỉ hữu chung thinh tống khách quy.              
       Và trong bài "Hàm Dương Thành Đông Lâu 咸 陽 城 東 樓" của Hứa Hồn cũng mở đầu bằng hai câu thơ rất hay là:

 一 上 高 城 萬 里 愁, NHẤT THƯỚNG cao thành vạn lý sầu,
 蒹 葭 楊 柳 似 汀 洲, Kiêm hà dương liễu tự Thinh Châu, 
Có nghĩa :
              Vòi vọi thành cao vạn dặm sầu,
              Lau xanh liễu rũ ngỡ Thinh Châu.

     Bài thơ được Hứa Hồn 許 渾 làm để nối theo âm vận hơi hám của bài Hoàng Hạc Lâu bất hủ của Thôi Hiệu với dư âm...

 黃 鶴 一 去 不 復 返, Hoàng hạc NHẤT KHỨ bất phục phản,
     là...
              Hạc Vàng MỘT ĐI không trở lại...
     "MỘT ĐI không trở lại" có nghĩa là: HỄ... đi rồi thì không trở lại bao giờ! Câu thơ nầy lại làm cho ta nhớ đến câu:

               一 醉 解 千 愁    NHẤT TÚY giải thiên sầu
Có nghĩa :
              HỄ Say một cái là có thể giải tỏa được ngàn mối sầu! 
     Chả trách, Hễ có chuyện buồn, lo, sầu, não gì là người ta cứ đổ xô đi nhậu! Ngày xưa, thì chỉ thấy cánh "nình ông" là bợm nhậu; còn ngày nay, do sự tiến hóa của xã hội, đòi hỏi nam nữ bình đẵng, nên có cả những tay bợm nhậu là cánh "nình bà" uống rượu cũng không thua cánh "nình ông" chút nào cả! Viết đến đây lại làm cho tôi nhớ đến câu thiệu trọng nam khinh nữ của thời phong kiến là:

              一 男 曰 有,    NHẤT nam viết hữu,
              十 女 曰 無。    Thập nữ viết vô.
Có nghĩa:
        - Có MÔT đứa con trai là kể có MỘT đứa con; còn...
        - Có mười đứa con gái, thì kể là Không Có đứa con nào cả!
     Tại sao?!
         Vì các ông bà xưa nghĩ rằng: Con gái lấy chồng sinh con sẽ mang họ của nhà chồng, nên dù cho có đến 10 đứa con gái cũng không có ai mang họ của cha để thừa tự và cúng tế ông bà tiên tổ. Ông bà ta còn phán một câu nghe rất đau lòng và bạc bẽo là: "Ối, Thứ cái đồ con gái ăn cơm nguội ở nhà ngoài! Có biết đâu rằng, ngày nay rất nhiều gia đình cha mẹ đều nhờ cậy vào con gái c!

     NHẤT còn là Hạng Nhất, dùng để chỉ người nào đó, cái gì đó tốt, đẹp, giỏi, ngon... hạng Nhất. Như con gà trên bàn nhậu là "Nhất phao câu, nhì đầu cánh" vậy! Trong ca dao dân gian ta thì có các câu sau đây:

                        Đẹp NHẤT con gái làng Tranh,
                   Chua ngoa làng Nhót, ba vành kẻ Ôm.
    
     Nói đến núi non thì:

                         NHẤT cao là núi Ba Vì,
                   Thứ ba Tam Đảo, thứ nhì Độc Tôn.
           

     Còn nói về thanh lịch thì :

                          NHẤT cao là núi Ba Vì,
                 NHẤT lịch NHẤT sắc kinh kỳ Thăng Long.

     Để tỏ rõ chí lớn phiêu bạt giang hồ thì:

                       NHẤT cao là núi Chóp Chài,
                   NHẤT rộng là bể, NHẤT dài là sông.
                      NHẤT giang hồ là kẻ đàn ông,
                 Bồng bềnh một chiếc thuyền giong hải hà !

     Còn muốn tỏ tình với cô gái xóm đông thì kể lể :

                        NHẤT chờ, nhì đợi, tam mong,
             Tứ thương, ngũ nhớ, lục thất bát mong, cửu thập tìm !

     "Ga-lăng" hơn, ve vản cả những nàng góa phụ trẻ trung:

                         Cô kia khăn trắng tang ai ?
                  NHẤT tang cha mẹ, thứ hai tang chồng.
                      Tang chồng thì vứt khăn đi,
                  Tang cha tang mẹ ta thì tang chung !

 ... Và thực tế hơn trong cuộc sống hằng ngày với lời khuyên chí thành:

       NHẤT nghệ tinh, NHẤT thân vinh, 一 藝 精, 一 身 榮,
       Ai ơi phải qúy nghề mình mới nên.
       Hoặc buôn bán hoặc thợ thuyền,
       Nghề gì cũng sẽ làm nên sang giàu !

                      
                        

      Ta thấy câu trên có 2 từ NHẤT với nghĩa rất khác nhau:
         - NHẤT NGHỆ 一 藝 là Một nghề, chỉ BẤT CỨ một nghề nào đó.
         - NHẤT THÂN 一 身 là Một thân, chỉ SUỐT CẢ một đời của thân mình. Tương đương với từ NHẤT SINH 一 生 là Suốt cả cuộc sống của mình, là Suốt Đời, và NHẤT THẾ 一 世 là Một Đời, chỉ Cả đời sống của mình. Ngoài ra, ta còn có từ:
        - NHẤT THÌ 一 時 là Một thuở, chỉ trong một lúc nào đó. Ta có thành ngữ THIÊN TẢI NHẤT THÌ 千 載 一 時 là Ngàn năm một thuở, như lời nói của Thúy Kiều đã nói với sư Giác Duyên khuyên bà hãy nán lại chơi để hàn huyên tâm sự:

                     Nàng rằng THIÊN TẢI NHẤT THÌ,
                    Cố nhân đã dễ mấy khi bàn hoàn.
                     Rồi đây bèo hợp mây tan,
                  Biết đâu hạc nội mây ngàn là đâu !?

      Ngoài ra, "NHẤT THÌ... NHẤT THÌ" còn dùng để chỉ: (cái nầy) MỘT LÚC... (cái kia) MỘT LÚC như khi Vương Ông khuyên Thúy Kiều hãy từ giả sư Giác Duyên để cùng về nhà đoàn tụ với gia đình:

                    Ông rằng: "BỈ THỬ NHẤT THÌ,
                Tu hành thì cũng phải khi tòng quyền.
                    Phải điều cầu Phật cầu Tiên,
                 Tình kia hiếu nọ ai đền cho đây !?

      BỈ THỬ NHẤT THÌ 彼 此 一 時 có xuất xứ từ Chương Công Tôn Sửu Hạ trong sách Mạnh Tử《孟 子· 公 孫 丑 下》: Bỉ nhất thời, thử nhất thời dã 彼 一 時,此 一 時 也  có nghĩa: Cái kia một lúc thì cái nầy một lúc, phải thay đổi tùy theo hoàn cảnh thời thế, chớ không thể cứng ngắt mãi được.

     Còn ĐỆ NHẤT 第 一 là Lớp học cao nhất của chương trình Trung Học ngày trước; Học xong lớp Đệ Nhất sẽ thi lấy bằng Tú Tài Đôi và mới vào Đại Học được. Nhưng nghĩa thông thường của ĐỆ NHẤT là Điều thứ nhất, mà cũng có nghĩa là HẠNG NHẤT nữa, như ta thường nghe nói:

         - Đệ Nhất Mỹ nhân     - Đệ Nhất Dũng sĩ
         - Đệ Nhất Danh y       - Đệ Nhất Sát thủ
         - Đệ Nhất Danh ca     - Đệ Nhất Danh hài...

  ... Và cả Nho- Việt- Anh đề huề như cái anh chàng Việt Thảo, người dẫn chương trình của Chương trình Ca nhạc Hải Ngoại VÂN SƠN ngày trước, đã tự xưng mình là:

     ĐỆ NHẤT "EM-SI" (MC)  Hải Ngoại  第 一  海 外 MC.
       
                           

        Với truyền thống "Tôn Sư Trọng Đạo", người Việt Nam ta luôn luôn rất kính trọng đối với Thầy học với câu nói "NHẤT TỰ VI SƯ, BÁN TỰ VI SƯ 一 字 為 師,半 字 為 師  có nghĩa: "Dạy cho ta MỘT chữ cũng là thầy; Dạy cho ta NỬA chữ cũng là thầy của ta". Mời xem hai giai thoại về câu nói trên như sau:

 Theo sách "Đường Tài Tử Truyện"《唐 才 子 傳》ghi chép:

       Nhà sư thi sĩ TỀ KỶ 齊 己 (863—937), tục danh là Hồ Đắc Sinh 胡 得 生, có biệt hiệu là Hành Nhạc Sa Môn 衡 岳 沙 門, là người đất Ninh Hương, thuộc huyện Trường Sa tỉnh Hồ Nam hiện nay. Ông sống ở cuối đời  Đường, và xuyên suốt qua ba triều đầu đời Ngũ Đại. Lúc nhỏ gia đình nghèo khó, 6 tuổi đã phải đi chăn trâu độ nhật. Nhưng lại có chí cầu học, mỗi ngày đều đọc sách và làm thơ trên lưng trâu. Sư Cụ trong chùa Đồng Độ Tự thương tình cho vào chùa tu để có thời gian học hành và nghiên cứu kinh Phật. Từ đó, Tề Kỷ học hành tấn tới và làm thơ rất nhanh rất giỏi.
       Một hôm gần cuối năm, như thường lệ, Tề Kỷ thức sớm cúng Phật và làm công phu buổi sáng trong khi đêm qua tuyết rơi rất lớn. Mở cửa ra sân nhìn về thôn xóm xa xa, chợt thấy trong nền tuyết trắng bao la lấm tấm có mấy cành mai đà hé nở! Cảm cho cái tinh thần bất khuất trước tuyết đông giá lạnh, cái sức sống mạnh mẽ ngạo nghễ vươn lên giữa biển tuyết mênh mông của hoa mai, Tề Kỷ về phòng làm ngay bài thơ "TẢO MAI 早 梅 " để tán thưởng cho việc hoa mai nở sớm. Trong bài thơ có 2 câu rất hay là: 

        Tiền thôn thâm tuyết lý,    前 村 深 雪 裏
        Tạc dạ SỔ chi khai.           昨 夜 數 枝 開。
Có nghĩa :
               - Trong rừng tuyết của xóm phía trước xa xa...
               - Tối đêm qua đã có VÀI cành mai đà hé nở !

        Tề Kỷ rất đắc ý với 2 câu thơ nầy, nên mới đem khoe với Trịnh Cốc 鄭 谷 (849-911), một thi sĩ đương thời. Trịnh Cốc đọc xong phê rằng: " SỔ Chi Khai 數 枝 開 " là VÀI cành mai đà nở, chưa thấy được cái "TẢO 早 " là SỚM của Mai, nên đổi lại là " NHẤT CHI KHAI 一 枝 開 " để nêu bật được cái SỚM của MỘT cành Mai nở trong tuyết lạnh! Tề Kỷ nghe xong, phục sát đất, bèn sửa lại thành:

                 Tiền thôn thâm tuyết lý,    前 村 深 雪 裏
                 Tạc dạ NHẤT chi khai.      昨 夜 一 枝 開。
              
           

... và từ đó về sau gọi Trịnh Cốc là " NHẤT TỰ SƯ  一 字 师 ", vừa có nghĩa là " Ông Thầy dạy cho MỘT chữ ", lại vừa có nghĩa là "Ông Thầy dạy cho chữ NHẤT"!

      Còn "Bán Tự Vi Sư 半 字 為 師" thì theo tích sau đây:

      CAO THÍCH 高 適 (706-765), tự là Đạt Phu 達 夫, người Bột Hải đất Thương Châu (nay là Cảnh Huyện tỉnh Hà Bắc). Ông là nhà thơ biên tái với lời lẽ mộc mạc chất phác nhưng mạnh mẽ, nổi tiếng ngang hàng với Sầm Tham, được người đời xưng tụng chung là CAO SẦM. Ông từng là Quan Sát Sứ của đất Lưỡng Chiết. Truyện kể...

       Một hôm, Cao Thích đi ngang qua Thanh Phong Lãnh của đất Hàng Châu, đêm ngủ lại một ngôi chùa cổ trên núi, nhìn thấy cảnh trời cao lồng lộng không một bóng mây, ánh trăng thu sáng vằng vặc chiếu xuống dưới dòng sông đang gợn sóng lăn tăn với thuỷ triều đang xuống trông vô cùng gợi cảm... bất chợt gợi hứng hồn thơ, bèn đề một bài thất ngôn tứ tuyệt lên trên vách chùa:

                
                        

  絕 嶺 秋 風 已自 涼,  Tuyệt lãnh thu phong dĩ tự lương,
  鶴 翻 鬆 露 濕 衣 裳。  Hạc phiên tông lộ thấp y thường.
  前 村 月 落 一 江 水,  Tiền thôn nguyệt lạc nhất giang thủy,
  僧 在 翠 微 閒 竹 房。  Tăng tại thúy vi nhàn trúc phòng.  
Có nghĩa :
                   Đỉnh núi gió Thu lạnh mát người,
                   Áo tơi hạc lượn ướt sương rơi.
                   Trước thôn trăng lặn đầy dòng nước,
                   Phòng trúc tăng thiền vẻ thảnh thơi.
   
        Sáng hôm sau khi từ giả lên đường, Cao Thích đi thuyền trên sông Tiền Đường mới thấy rằng, khi trăng lặn cũng là lúc thủy triều xuống nước ròng sát thì dòng sông Tiền Đường nhỏ lại chỉ còn bằng một nửa lúc nước đầy, nên câu thơ "前 村 月 落 一 江 水, Tiền thôn nguyệt lạc nhất giang thủy" không ổn chút nào cả. Vì "NHẤT GIANG THỦY là Một dòng nước đầy", nên khi Nguyệt Lạc (trăng lặn) thì nước sông chỉ còn có "BÁN GIANG THỦY 半江 水 là Nửa dòng nước" mà thôi. Ông trăn trở mãi vì câu thơ có chữ "NHẤT" đó, cho đến một hôm khi có việc đi ngang qua Hàng Châu, ông bèn lên núi tìm đến ngôi chùa trước kia định sửa chữ NHẤT 一 thành chữ BÁN 半. Nhưng khi đến nơi thì thấy chữ NHẤT 一 trong câu thơ đã được ai đó thêm vào chữ THẬP 十 và HAI CHẤM 丷 hai bên thành chữ BÁN 半 rồi! Cao Thích vừa ngạc nhiên vừa thích thú, mới hỏi thăm sư trong chùa xem ai đã sửa chữ NHẤT của ông thành chữ BÁN vậy ?
       Một nhà sư trẻ mới nói cho ông biết là khi ông vừa đi chẳng bao lâu, thì có một người khách khác đến, đọc bài thơ xong bèn mượn bút mực của chùa mà sửa chữ, và vì người khách nầy có tiếng tăm rất lớn nên nhà chùa không dám cản. Cao Thích hỏi ra thì mới biết người khách đó chính là Lạc Tân Vương 駱 賓 王, một trong TỨ KIỆT của buổi sơ Đường, bèn chắc lưỡi tán thán rằng: "Qủa là bậc thầy trong chữ nghĩa!" Và cũng vì thế mà người đời kháo nhau rằng: Lạc Tân Vương 駱 賓 王 chính là BÁN TỰ SƯ 半 字 師 (ông thầy chữ BÁN) của Cao Thích 高 適. Và vì BÁN TỰ 半 字 cũng có nghĩa là NỬA CHỮ, nên BÁN TỰ SƯ cũng có nghĩa: Nửa chữ cũng là Thầy !

         BÁN TỰ VI SƯ 半 字 為 師 "Nữa chữ cũng là Thầy" có xuất xứ nên thơ như thế đó! 
       
        Trong "Tăng Quảng Hiền Văn" có một nhóm câu ngạn ngữ bắt đầu đều bằng chữ NHẤT rất hay như sau đây:

     一 年 之 計 在 於 春,  NHẤT niên chi kế tại ư Xuân,
     一 日 之 計 在 於 寅;  NHẤT nht chi kế tại ư Dần;
     一 家 之 計 在 於 和,  NHẤT gia chi kế tại ư Hòa,
     一 生 之 計 在 於 勤!  NHẤT sinh chi kế tại ư Cần !
        
                 

Có nghĩa :
    -  Những kế sách hoạch định cho một năm phải bắt đầu từ mùa XUÂN,
    -  Những tính toán dự định trong một ngày phải bắt đầu từ giờ DẦN (từ 3 đến 5 giờ sáng). 
    -  Những kế hoạch để xây dựng gia đình cho êm ấm là chỉ ở một chữ HÒA.
    -  Những hoạch định tính toán dự trù cho cả một đời người là chỉ ở một chữ CẦN mà thôi! Nếu chịu khó siêng năng cần cù, thì trong cuộc đời dù không thành công lớn, cũng thành công nhỏ và có tệ nhất thì cũng... đủ ăn đủ mặc, chớ không đến nỗi phải đói rách lang thang.

      "Thiên hữu tứ thời XUÂN tại thủ 天 有 四 時 春 在 首". Trời có 4 mùa thì mùa XUÂN là mùa đầu tiên, tiết trời đã ấm áp trở lại sau mùa Đông giá rét , cây cỏ đâm chồi nẩy lộc, vạn vật đều tái sinh, khí thế đang lên, nên các kế sách dự định trong năm cũng nên bắt đầu ở thời điểm nầy... hơn nữa, nếu có gì trục trặc thì cũng có đủ thời gian để... điều chỉnh lại! Kế hoạch trong năm bắt đầu ngay được từ mùa Xuân, thì xem như đã thành công một nửa rồi!
      "Thiên quang DẦN, nhật xuất MÃO 天 光 寅,日 出 卯". Trời sáng ở giờ Dần, mặt trời mọc ở giờ Mão, nên công việc dự định trong ngày phải bắt đầu ngay từ giờ DẦN. Ngay cả nông dân làm ruộng cũng thế, muốn gieo mạ, cấy lúa, gặt lúa... đều phải thức giấc lúc giờ Dần để bắt đầu cho công việc đồng áng. Ngày xưa, phương tiện giao thông khó khăn, nên đnh đi đâu để làm gì thì cũng phải thức giấc lúc giờ DẦN.
      "HÒA khí sanh tài 和 氣 生 財"  có Hòa Thuận để làm ăn thì mới phát sinh tài lộc được, gia đình xào xáo, mỗi người một ý , thì làm ăn làm sao lên cho được! Ông bà cũng đã dạy "Gia HÒA thì Vạn sự Hanh 亨"  có nghĩa: Gia đình Hòa Thuận thì muôn việc đều hanh thông suôn sẻ. Câu nầy thường bị đọc lệch đi là "Gia Hòa vạn sự HƯNG 興 (Hưng là Hưng Vượng 興 旺) , ý nghĩa cũng tương tự mà thôi.
      Cuối quyển Tam Tự Kinh có câu: "CẦN hữu công, Hí vô ích" 勤 有 功,戲 無 益. Nghĩa đã rõ: Chơi bời lêu lỏng không đem lại lợi ích gì cả, còn Siêng Năng cần cù thì sẽ gặt hái được thành công trong mọi mặt, nên trong cuộc đời của một người, yếu tố "CẦN" là "Siêng Năng" không thể thiếu trong việc tạo dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc cho gia đình được!
           
       NHẤT NHẬT 一 日 là Một ngày, NHẤT ĐÁN 一 旦 cũng là Một Ngày, nhưng lại có nghĩa phiếm chỉ là: "Một Ngày Nào Đó", ngày đó có thể có, cũng có thể không, như trong câu:

         百 年 成 之 不 足,  Bách niên thành chi bất túc,
         一 旦 壞 之 有 餘。  NHẤT ĐÁN hoại chi hữu dư !
Có nghĩa :
         - Sự gầy dựng để được thành công trong một trăm năm thấy như vẫn còn chưa đủ; Nhưng...
         - Sự hũy hoại phá tán chỉ cần trong một ngày (nào đó) là đã có thừa rồi !
Ý là :
         Cơ nghiệp gầy dựng cả trăm năm của ông cha để lại, nếu con cháu không biết trân trọng, thì chỉ cần ăn chơi trác táng, cờ bạc trong một ngày một buổi là đã thua sạch cả rồi! Tăng Quảng Hiền Văn cũng có câu:

               莫 將 容 易 得;   Mạc tương dung dị đắc,
               便 作 等 閒 看。   Tiện tác đẵng nhàn khan.
Có nghĩa :
            - Đừng thấy những gì dễ dàng có được quá, dễ dàng thành công quá; bèn...
            - Lấy đó mà ỷ y xem thường; (sẽ gặp thất bại và vấp ngã về sau đó !).

       Mong rằng tất cả mọi người đều phải biết trân trọng những cái mà ta có được trước mắt, đừng đứng núi nầy trông núi nọ, đừng mơ ước những cái xa vời ngoài tầm tay của mình... để rồi quên đi thực tại, đánh mất hay phá tán những cơ bản vốn có trước mắt một cách không thương tiếc, rồi để lại sự nuối tiếc và mối hận khó mà hàn gắn được về sau!
              


       NHẤT NHẤT đều phải nên cẩn trọng, "Tam tư nhi hành, Tái tư khả hỉ 三 思 而 行,再 思 可 矣!"  Suy nghĩ ba lần rồi hãy làm; Trước khi làm còn có thể suy nghĩ lại thêm một lần nữa!(Cho chắc ăn!) Để khỏi phải :

    一 失 足 成 千 古 恨!   NHẤT thất túc thành thiên cổ hận!
Đừng để đến đổi...
         Một lần xẩy chân đưa đến mối hận sầu thiên cổ!

       Mong lắm thay !

                                                杜 紹 德
                                            Đỗ Chiêu Đức