Thứ Bảy, 29 tháng 8, 2026

Giai Thoại Văn Chương : TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ (tiếp theo 1) (Đỗ Chiêu Đức)

 Giai Thoại Văn Chương : TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ (tiếp theo)

                                          *****

 Và sau đây là 2 trong 6 bài TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ của Trần Hậu Chúa Trần Thúc Bảo 陳 叔 寶 của Nam Triều :

              自 君 之 出 矣,     Tự quân chi xuất hĩ,
              綠 草 遍 堦 生。     Lục thảo biến giai sinh.
              思 君 如 夜 燭,     Tư quân như dạ chúc,
              垂 淚 著 雞 鳴。     Thùy lệ chước kê minh.

              自 君 之 出 矣,     Tự quân chi xuất hĩ,
              愁 颜 难 复 睹。     Sầu nhan nan phục đổ.
              思 君 如 蘗 條,     Tư quân như bách điều,
              夜 夜 只 交 苦。     Dạ dạ chỉ giao khổ !                   

* Chú thích :
    - Biến Giai 遍 堦 : BIẾN là Khắp cùng; GIAI là Bậc thềm; nên BIẾN GIAI là Khắp cả bậc thêm, là Đầy thềm.
    - Thuỳ Lệ 垂 淚 : là Nhỏ hai hàng nước mắt.
    - Kê Minh 雞 鳴 : là Gà gáy, chỉ trời rựng sáng.
    - Phục Đổ 复 睹 : là Nhìn rồi, nhìn lại một lần nữa.
    - Bách Điều 蘗 條 : BÁCH là Cây Hoàng Bách 黃 蘗, còn được đọc là Huỳnh Bách 黃 蘗 hay Huỳnh Bá 黃 柏, có vị đắng dùng làm thuốc giải nhiệt. Trong truyện "Lục Vân Tiên" của cụ Đồ Chiểu, thầy thuốc Triệu Ngang khi trị bịnh cho Lục Vân Tiên đã nói câu :
                 Huỳnh liên Huỳnh Bá Huỳnh cầm,
               Gia vào cho bội nhiệt tâm mới bình.
       Còn trong ca dao dân ca thì nói:
                 Huỳnh Cầm, Huỳnh Bá, Huỳnh Liên,
               Ba Huỳnh hiệp lại thì khiêng ra đồng.
       Hay :
                 Huỳnh Liên, Huỳnh Bá, Huỳnh Cầm,
               Uống vào một miếng thì nằm ngay đơ !
                   



    - Giao Khổ 交 苦 : Chỉ những cây Huỳnh Bá mới mọc giao nhau cái vị đắng của cây; (Mượn vị đắng để chỉ cái khổ sở đang dày xéo trong lòng).

* Nghĩa bài thơ :
        Từ ngày chàng bước chân đi rồi, thì cỏ xanh cũng mọc đầy khắp cả bậc thềm (vì không còn ai đi lên xuống cả). Nhớ chàng như cây nến thắp ban đêm; cứ nhỏ lệ mãi cho đến lúc gà gáy sáng.
        Từ ngày chàng bước chân ra đi rồi, thì thiếp buồn rầu đến nỗi khó thấy lại được dung nhan của ngày xưa. Nhớ chàng như là những cây huỳnh bách mới mọc, cứ đêm đêm lại đắng thêm ra.

* Diễn Nôm :
                    TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ

                                          
                    Từ ngày chàng ra đi,
                    Đầy thềm cỏ xanh rì.
                    Nhớ chàng như lệ nến,
                    Gà gáy vẫn nhỏ lì !
        
                    Từ ngày chàng đi rồi,
                    Mặt buồn gương chẳng soi.
                    Nhớ chàng như huỳnh bá,
                    Đêm đêm ngậm đắng thôi !
        Lục bát :
                    Từ ngày chàng bước chân đi,
                    Thềm hoang cỏ dại xanh rì khắp nơi.
                    Nhớ chàng như lệ nến rơi,
                    Lệ rơi rơi mãi gà thời gáy vang !

                    Từ ngày chàng ra đi rồi,
                    Mặt buồn nên chẳng buồn soi gương vàng.
                    khổ như huỳnh bá nhớ chàng,
                    Đêm đêm ngậm đắng khổ càng khổ hơn !

       Đến đời Đường thì có Ung Dụ Chi 雍 裕 之 (765-813) với bốn câu thơ sau :

               自 君 之 出 矣,    Tự quân chi xuất hĩ,
               寶 鏡 為 誰 明?    Bảo kính vị thùy minh?
               思 君 如 隴 水,    Tư quân như Lũng thủy,
               長 聞 嗚 咽 聲。    Trường văn ô yết thinh.
                    
     


* Chú thích :
    - Lũng Thủy 隴  水 : Tên một con sông ở vùng Cam Túc, Thiểm Tây. Vì phát nguyên từ trong núi đá quanh co chảy ra, nên tiếng nước chảy nghe róc rách như oán như than.
    - Trường Văn 長 聞 : VĂN 聞 nầy có bộ NHĨ 耳 là Lổ Tai ở bên trong chữ MÔN 門 là cửa : Chỏ lổ tai ra ngoài cửa, nên VĂN có nghĩa là Nghe Ngóng. Vì thế TRƯỜNG VĂN có nghĩa là : Nghe dài dài, là Nghe mãi...
    - Ô Yết 嗚 咽 : Tiếng nấc tức tưởi nghn ngào từ trong cổ họng vang lên.

* Nghĩa bài thơ :
        Từ ngày chàng ra đi rồi, thì gương báu còn biết sáng vì ai đây ? Nhớ chàng như dòng sông Lũng Thủy, cứ nghe róc rách như nghẹn ngào tức tưởi mãi không thôi !

* Diễn Nôm :
                        TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ

                           

                    Từ ngày chàng đi rồi,
                    Gương báu vì ai soi ?
                    Nhớ chàng như sông Lũng,
                    Róc rách mãi không thôi !
        Lục bát :
                    Từ ngày chàng bước chân đi,
                    Bỏ mặc gương báu sáng vì ai đây ?
                    Nhớ chàng như nước Lũng đầy,
                    Róc rách tức tưởi nghe hoài đêm đêm !
 
       Trong rừng thơ mô phỏng TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ, có ý mới và xuất sắc nhất là của Tễ Tướng Trương Cửu Linh 宰 相 張九 齡 mà ta đã biết :

               自 君 之 出 矣,     Tự quân chi xuất hĩ,
               不 復 理 殘 機。     Bất phục lý tàn ki (cơ).
               思 君 如 滿 月,     Tư quân như mãn nguyệt,
               夜 夜 減 清 輝。     Dạ dạ giảm thanh huy !
                  
        

* Chú thích :
    - Phục Lý 復 理 : LÝ là xử lý, là Sữa chữa; nên PHỤC LÝ là Sữa chữa lại.
    - Tàn Cơ 殘 機 : CƠ là Khung cửi; nên TÀN CƠ là Khung cửi đà tàn tạ, hư hao. Vì muốn cho ĂN VẬN với từ HUY ở câu 4 nên CƠ mới đọc là KI.
    - Mãn Nguyệt 滿 月 : là Vầng trăng đầy đặn trong sáng của ngày rằm.
    - Thanh Huy 清 輝 : THANH 清 có ba chấm THỦY 氵bên trái, nên có nghĩa là Trong trẻo; nên THANH HUY là Ánh sáng trong trẻo dịu dàng của ánh trăng ban đêm.   
            
* Nghĩa bài thơ :
            Từ ngày chàng buớc chân ra đi, thiếp cũng đã chẳng thèm ngó ngàng sửa chửa gì đến cái khung cửi đã tàn tạ kia nữa. Thiếp nhớ chàng như ánh trăng rằm đầy đặn, rồi đêm đêm cứ giảm dần giảm dần ánh sáng trong trẻo một cách mỏi mòn !

* Diễn Nôm :
                     TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ
                   
                    
                     Từ ngày chàng đi rồi,
                     Khung cửi chẳng sửa thôi,
                     Nhớ chàng như mãn nguyệt,
                     Đêm đêm bớt sáng rồi !
        Lục bát :
                     Từ ngày chàng bước chân đi,
                     Cửi khung bỏ mặc cần gì sửa sang. 
                     Nhớ chàng tựa ánh trăng vàng,
                     Đêm đêm bớt sáng võ vàng đêm đêm !

       Bài thơ của Trương Cửu Linh đã được nhạc sĩ Đàm Tiểu Lân 譚 小 麟 (1912-1948) phổ nhạc. Bấm vào link dưới đây để nghe nhạc :
           
       Nữ thi nhân nước Tống thời Nam Triều là Bào Lệnh Huy 鮑令 暉 thì viết hẵn thành một bài Ngũ ngôn Cổ phong với nhiều tình tiết nhớ thương và mong đợi... như sau :

               自 君 之 出 矣,     Tự quân chi xuất hĩ,
               臨 軒 不 解 顏。     Lâm hiên bất giải nhan.
               砧 杵 夜 不 發,     Châm chữ dạ bất phát,
               高 門 晝 恆 關。     Cao môn trú hằng quan.
               帳 中 流 熠 耀,     Trướng trung lưu tập diệu,
               庭 前 華 紫 蘭。     Đình tiền hoa tử lan.
               物 枯 識 節 異,     Vật khô thức tiết dị,
               鴻 來 知 客 寒。     Hồng lai tri khách hàn.
               游 用 暮 冬 盡,     Du dụng mộ đông tận,
               除 春 待 君 還。     Trừ xuân đãi quân hoàn !
                 


* Chú thích :
    - Lâm Hiên  臨 軒 : là đến trước mái hiên nhà.
    - Giải Nhan 解 顏 : là Mở mày mở mặt, chỉ vui vẻ, nên Bất Giải Nhan là mặt mày không vui chút nào cả.
    - Châm Chữ 砧 杵 : CHÂM 砧 có bộ THẠCH 石 bên trái, là cái Chày bằng đá, mà cũng có nghĩa là tấm thớt nữa. CHỮ 杵 có bộ MỘC 木 bên trái, là Chày bằng cây. Nói chung CHÂM CHỮ là dụng cụ dùng để giặt giũ ngày xưa. Vì vải thô và dầy nên thường phải đập bằng chày.
    - Hằng Quan 恆 關 : HẰNG là Thường; QUAN (động từ) có nghĩa là Đóng; nên HẰNG QUAN là Thường đóng kín lại.
    - Tập Diệu 熠 耀 : TÂP là Sáng lắp lánh; DIỆU là Sáng choang, sáng chói, nên Tập Diệu là Sáng lắp lánh rực rỡ. Lưu Tập Diệu 流 熠 耀 là chỉ những con đom đóm bay nhấp nháy trong màn.
    - Tử Lan 紫 蘭 :là một loại hoa lan, có màu tím, trắng, lam, vàng...
    - Tiết Dị 節 異 : là Thời tiết đã khác đi.
    - Hồng Lai 鴻 來 : là Chim hồng nhạn bay đến.
    - Du Dụng 游 用 : Chỉ người du tử dạo chơi khắp chốn.
    - Trừ Xuân 除 春 : Chỉ cuối đông đầu xuân.

* Nghĩa bài thơ :
        Từ ngày chàng ra đi rồi, thiếp thường ra đứng ở mái hiên để trông ngóng chàng một cách buồn bã vì chẳng thấy chàng đâu.
        Thớt chày đêm đêm cũng không còn vang lên tiếng giặt giũ; và cửa nhà luôn được đóng kín lúc ban ngày.
        Trong trướng thì mỗi đêm đều có đom đóm bay chập chờn lắp lánh; Trong sân nhà thì các loại hoa tử lan lại nở đầy.
        Vạn vật cứ khô héo dần nên thiếp biết là thời tiết đã thay đổi khác đi rồi; và chim hồng nhạn bay đến nên thiếp biết là ở nơi đất khách trời đã trở lạnh rồi.
        Chàng dạo chơi khắp chốn nhưng cũng nên biết là mùa đông đã sắp tàn rồi, và đầu xuân nầy thiếp sẽ mong đợi chàng về (để đôi ta được đoàn tụ).

* Diễn Nôm :
                   TỰ QUÂN CHI XUẤT HĨ
                
                    


                   Từ ngày chàng đi xa,
                   Buồn ngóng mái hiên nhà.
                   Tiếng chày đêm hết giặt,
                   Cửa ngày chẳng mở ra.
                   Trong trướng đóm bay lượn,
                   Ngoài sân lan nở hoa.
                   Vật khô thời tiết đổi,
                   Nhạn về lạnh khách xa.
                   ngao du đông đà hết,
                   Đầu xuân đợi về nhà !
         Lục bát :
                   Từ ngày chàng bước chân đi,
                   Bên hiên buồn ngóng vui chi sao đành.
                   Chày giặt im tiếng đêm thanh,
                   Cửa nhà đóng chặc không đành mở ra.
                   Trong màn đóm lượn lấp la,
                   Ngoài sân lan đã nở hoa khắp cùng.
                   Sao vời vật đổi mông lung,
                   Nhạn về đất khách lạnh cùng khắp nơi.
                   Ngao du đông đã hết rồi,
                   Đầu xuân thiếp đợi, chàng ơi hãy về !

                                           Đỗ Chiêu Đức                                                                                                                     (Xem tiếp theo phần 2)