Thứ Bảy, 26 tháng 9, 2026

Tình sử của HXH và Nguyễn Du, bài 2/27: Bài 2: Đề Trấn Quốc Tự Hồ Xuân Hương (Ngân Triều biên soạn)

 


Tình sử của HXH và Nguyễn Du, bài 2/27:
Bài 2:
Đề Trấn Quốc Tự
Hồ Xuân Hương


Trong bài Chơi Tây Hồ nhớ bạn, Hồ Xuân Hương trả lời bài Độc Tiểu Thanh Ký của Nguyễn Du có câu: Trấn Quốc rêu phong vẫn ngấn thơ. Lời thơ đề chùa Trấn Quốc rêu phong cổ kính còn vang vọng. Bài Đề Trấn Quốc Tự, Hồ Xuân Hương chép trong Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập. Tập thơ này gồm những bài ngâm vịnh rất đứng đắn, có lẽ Đại Thần Trương Đăng Quế, Tùng Thiện Vương đã đọc tập qua, cho nên các ông đã sánh Hồ Xuân Hương ngang với Mai Am Công Chúa và Phạm Lam Anh, là những nữ sĩ nổi tiếng bấy giờ. Vậy là, ở thế kỷ 19, các nhà thơ đương thời ngưỡng mộ Hồ Xuân Hương (HXH), một nhà thơ đứng đắn, lãng mạn, không có chuyện phê phán HXH là một nhà thơ dâm tục.


Dịch nghĩa:
Ai là người đến đó khách đài trang, dòng dõi quyền quí.
Cơn gió nam bấy giờ nhẹ lướt êm êm,
Trăng nước sóng lồng cánh sen vừa mới nở, nõn nà tinh khiết.
Khói hương chùa bay lên như chiếc tán lọng(tàn) quý báu; lại bay lên nữa, như cánh cò cánh hạc bay lên vầng mây.
Đóa hoa sen mới nở như mỉm miệng cười, hàm tiếu, cười nụ, nhẹ nhàng rửa tan niềm tục,
Ngắm cỏ xanh mùa Xuân làm cho tỉnh niềm mơ.
Đến cảnh muốn ngoảnh lại, muốn hỏi chàng, (Nguyễn Du lòng đang muốn về quê Hồng Lĩnh),
Vung tay áo vẫy gọi đàn hồng nhạn bay về phía Đông Nam.
*
Đề Trấn Quốc tự (Trấn Bắc tự)
Trang lâm thùy thị cảnh trung nhân,
Tế tế thanh phong phiến phiến huân.
Thủy nguyệt ba lung liên quải choát,
Hương yên bảo thoại lộ liên vân.
Tẩy không trần lự hoa hàm thoại,
Hoán tỉnh mê đồ thảo diệc xuân.
Đáo cảnh linh nhân hồi thủ vấn,
Đông Nam phất tụ nhạn thành quần.
Thơ chữ Hán Hồ Xuân Hương, Nhất Uyên dịch thơ
*
Bản chữ Hán Ngân Triều soạn:
鎮 北 寺
莊 臨 誰 是 景 中 人
細 細 清 風 扇 扇 薰
水 月 波 籠 蓮 插 茁
香 煙 寶 憩 露 連 雲
洗 空 塵 慮 花 含 態
喚 醒 迷 途 草 亦 春
到 景 令 人 回 首 問
東 南 拂 袖 鴈 成 群
*
Nhất Uyên Phạm Trọng Chánh dịch thơ:
Ai người đến đó, khách đài trang,
Nhẹ lướt êm êm cơn gió Nam.
Trăng nước sóng lồng sen nõn cánh,
Khói hương tàn báu hạc bay ngàn.
Rửa niềm trần tục hoa hàm tiếu,
Gợi tỉnh niềm mơ cỏ thấm Xuân.
Đến cảnh quay đầu người muốn hỏi,
Đông Nam tay vẫy nhạn tung đàn.
*
Ngân Triều cảm đề:
Ðề chùa Trấn Bắc
(Trấn Quốc tự)

Ngoạn cảnh đài trang khách quý đây,
Gió Nam man mát ngát hồn đầy .
Sóng vờn trăng nước, sen cười mỉm,
Hương khói tán cò, bay thấu mây.
Tẩy sạch phiền trần hoa thẹn mặt,
Cỏ Xuân mơn mởn, khách lòng khuây.
Dừng chân ngoảnh lại như thầm hỏi,
Tay vẫy Đông Nam nhạn một bầy.
câu (a) trên có thể hiểu hai ý:
-Khi về quê ở Hồng Lĩnh, Nguyễn Du sẽ gặp lại thân bằng quyến thuộc của mình rất đông, một đàn.
-Tay áo của Nguyễn Du có đính những sợi dây cột, khi vẫy tay áo, những sợi đó bay bay như hình ảnh một đàn nhạn bay lả lướt trong gió.
*
Nguồn:
1. Hồ Xuân Hương thơ chữ Hán - chữ Nôm & giai thoại, Bùi Hạnh Cẩn, NXB Văn hoá - Thông tin, 1999
2. Chùa Trấn Quốc, khảo cứu và tư liệu Hán Nôm, NXB Văn học, 2009
3. Tứ gia thi tập (ký hiệu R. 423), Thư viện quốc gia Việt Nam.
4. Đi tìm Cổ Nguyệt Đường và mối tình Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du, TS Phạm Trọng Chánh.
***
Ảnh Minh họa:

                           

Cảnh Chùa Trấn Quốc Hanoi. Google                                           












Thứ Sáu, 25 tháng 9, 2026

BIỆN ĐẠO (BÀI 9): NHÂN CỦA ĐẠO KHỔNG LÀ NUÔI DƯỠNG ĐỂ PHÁT TRIỂN / Tác giả: Ogyu Sorai - Dịch giả: Nguyễn Sơn Hùng

 

BIỆN ĐẠO (BÀI 9)

NHÂN CỦA ĐẠO KHỔNG LÀ NUÔI DƯỠNG ĐỂ PHÁT TRIỂN 

Tác giả: Ogyu Sorai

Dịch giả: Nguyễn Sơn Hùng

***

Lời thưa trước

Bài này tuy ngắn nhưng nội dung cho chúng ta hiểu được điểm trọng yếu đạo tiên vương, tức đạo Khổng mà các Nho gia về sau đặc biệt Tống Nho đã hiểu không đúng và giải thích sai lầm theo ý riêng của họ sinh ra sự hà khắc khó khăn trong việc học đạo thánh hiền.

 

BÀI 9 

Nhân 仁 là đạo nuôi dưỡng mọi vật, không gây ra giết hại, chiến tranh

Nhân 仁l à đạo nuôi dưỡng(a). Khi áp dụng nhân vào việc quản lý quốc gia thì tích cực dùng người “thẳng” (trực 直) chung với người “cong” (uổng 枉) để sửa người “cong” thành ra người “thẳng” (1). Khi áp dụng nhân vào việc tu thân thì nuôi dưỡng, khuyến khích việc làm điều tốt để các tật xấu tự nhiên mất đi. Đó là thuật (cách làm thực tế) quản lý quốc gia và giáo dục dân của các tiên vương.

 

Giải thích sai của Tống Nho gây ra bầu không khí sát phạt trong xã hội

    Các Nho gia đời sau không thấu hiểu đạo tiên vương nên tự ý lấy trí tuệ riêng của bản thân họ và giải thích đạo tiên vương là làm thiện trừ ác, phổ biến lan rộng lẽ trời và ngăn cấm lòng ham muốn (2). Trong khi xã hội thực tế đương thời không phải như thời đại Nghiêu Thuấn, và con người không phải là thánh nhân (mà có thể diệt hết lòng ham muốn), do đó tất nhiên xấu nhiều tốt ít. Do đó, một khi giải thích này trở thành mục tiêu để họ theo đuổi thì trong xã hội dưới ảnh hưởng của họ trở nên đầy sát khí (không khí sát phạt). Do đó, đối với việc quản lý quốc gia thì đưa đến tình trạng Chu Hy biên soạn lại sách ghi chép lịch sử tựa Tư Trị Thông Giám của Tư Mã Quang theo quan điểm (danh phận luận và chính thống luận) của riêng ông thành sách Tư Trị Thông Giám Cương Mục (3). Đối với việc tu thân thì vua Thái Tông nhà Minh đã ra chiếu chỉ sai Hồ Quảng và các người khác biên soạn sách Lý Tính Đại Toàn theo quan điểm của Tính Lý học của Tống Nho (4). Chủ trương này đòi hỏi mức độ hà khắc (độc dữ khắc khổ) mà cả người (người được lấy làm đối tượng) lẫn ta (người chủ trương) đều không chịu đựng nỗi. Kết quả đưa đến việc người đời cho rằng các Nho gia yêu thích việc công kích người khác. Không phải là việc đáng buồn lắm sao?

Từ thời Thương Ưởng (5) về sau, không những ở triều đình mà ngay cả trong các trường học ở địa phương phương pháp nghiêm khắc và độc ác này được áp dụng (tức chủ trương về Khổng học của Tống Nho nói trên được dùng để giảng dạy). Việc quản lý quốc gia và giáo dục dân này không thể sánh kịp với 3 thời Hạ, Ân và Chu!

Tóm tắt ý quan trọng

- Nhân 仁 là đạo nuôi dưỡng mọi vật, không gây ra giết hại, chiến tranh.

- Do hiểu sai nên giải thích sai đạo Khổng của Tống Nho nên gây ra bầu không khí sát phạt trong xã hội làm cho người đời nghĩ rằng đạo Khổng là khắc nghiệt (hà khắc).

Nguyễn Sơn Hùng

Dịch xong ngày 6/8/2026

Xem lại và bổ sung ngày 30/8/2026

 

Nhận xét

(a) Ngay khi bắt đầu mục Nhân trong Biện Danh, Sorai viết “Nhân giả. Vị trưởng nhân an dân chi đức dã. Thị thánh nhân chi đại đức dã. 仁者、謂長人安民之徳也。是聖人之大徳也”, nghĩa là: “Nhân là đức an dân của người đứng đầu. Là đại đức của thánh nhân”. Thế tại sao ở đây ông là nói “Nhân là đạo nuôi dưỡng”?

Khi bắt đầu mục Đức của Biện Danh Sorai viết “Đức giả đắc giả. Vị nhân các sở đắc ư đạo dã”, nghĩa là: 徳者得也。謂人各有所得於道也。Đức là được (đạt). Đức để gọi những phần nội dung của Đạo có được ở mỗi người. Hơn nữa, Nhân là đức quan trọng nhất của đạo tiên vương và thống lãnh, tổng hợp mọi thứ đức nên có thể nói nhân là đại diện của của đạo tiên vương nên ở bài này Sorai nói “Nhân là đạo nuôi dưỡng” chăng? Tuy nhiên, đây chỉ là suy đoán của người dịch. Bởi vì Sorai rất nhiều lần viết trong Biện Đạo, Biện Danh và Luận Ngữ Trưng rằng “lễ và nghĩa” không phải là đức mà là đạo. Như nói ở trên có lẽ vì nhân là đứng đầu trên mọi thức đức và tiêu biểu cho đạo tiên vương nên chỉ có Nhân là được xem vừa là đạo vừa là đức chăng?

Nhận xét tổng thể

(1) Chính trong thời đại chiến tranh đang xảy ra nhiều nơi trên thế giới hiện nay càng cho chúng ta thấy phương châm nhân = nuôi dưỡng để phát triển càng thêm quan trọng. Phải nói để thực hiện phương châm này trong việc quản trị quốc gia đối với đối tượng tích cực (những cá nhân, tổ chức làm điều tốt) thì dễ và được nhiều quốc gia áp dụng. Tuy nhiên, đối với đối tượng tiêu cực (những cá nhân, tổ chức làm điều xấu) thì rất khó vì cần phải mất nhiều công sức, tài chánh cùng nhẫn nại chịu đựng cho đến khi có hiệu quả. Tuy nhiên, không nên vì vậy mà hoàn toàn bỏ qua không thực hiện thử. Chúng ta có thể thấy những nước tiên tiến đã thực hiện trong vài lãnh vực và đã thành công. Để xây dựng thế giới hòa bình thật sự, tất cả mọi người cần gắng sức trong phạm vi có thể của mình là điều quan trọng. Ít nhất cần triệt đễ phương châm này trong lãnh vực giáo dục. 

Ghi chú

(1) Trong chương 19 thiên 2 Vi Chính sách Luận Ngữ viết:

哀公問曰:何為則民服?孔子對曰:舉直錯諸枉, 則民服;舉枉錯諸直,則民不服。

Ai Công vấn viết: “Hà vi tắc dân phục?” Khổng Tử đối viết: “Cử trực thố chư uổng, tắc dân phục. Cử uổng thố chư trực, tắc dân bất phục.”

Dịch (Nguyễn Hiến Lê)

Vua Ai Công hỏi: “Làm thế nào thì dân phục tòng?” Khổng tử đáp: “Đề cử người ngay thẳng lên trên hạng người cong queo thì dân phục tòng, đề cử người cong queo lên trên người ngay thẳng thì dân không phục tòng.”

Chú thích (Nguyễn Hiến Lê)

Ai Công là vua nước Lỗ, con Định Công, lên ngôi năm TCN 494. Bài này có thể hiểu hai cách: chữ thố [錯] là bỏ, chữ chư [諸] là hết thảy, như vậy “cử trực thố chư uổng” nghĩa là: Dùng người ngay thẳng, bỏ hết những người cong queo. Chúng tôi hiểu theo Triệu Thông (Luận ngữ dịch chú – Hữu Liên xuất bản): thố [錯] là đặt lên, chư [諸] là hai chữ chi ư [之於] hợp lại (như từ ảnh = anh ấy của ta, hoặc từ Smog = Smoke + fog của Anh) mà dịch như trên. Triệu Thông cho rằng hiểu như vậy mới hợp với câu “cử trực thố chư uổng, năng sử uổng giả trực” trong bài 20 thiên XII (Nhan Uyên): cứ đề cử người ngay thẳng lên trên người cong queo thì người cong queo cũng tự ý rút đi, nếu không tự sửa mình, không cần phải đuổi hết bọn họ đi.

Chú thích của người dịch: Giải thích của Sorai cũng giống như Triệu Thông. Đón xem bản dịch Luận Ngữ Trưng của người dịch.

Trong chương 22 thiên 12 Nhan Uyên sách Luận Ngữ viết:

樊遲問仁。子曰:愛人。 問知。子曰:知人。 樊遲未達。子曰:舉直錯諸枉,能使枉者直。 樊遲退,見子夏曰:鄉也,吾見於夫子而問知。子 曰:“舉直錯諸枉,能使枉者直。”何謂也? 子夏曰:富哉言乎!舜有天下,選於眾,舉皋陶, 不仁者遠矣;湯有天下,選於眾,舉伊尹,不仁者 遠矣。

Phàn Trì vấn nhân. Tử viết: “Ái nhân.” Vấn trí. Tử viết: “Tri nhân.” Phàn Trì vị đạt. Tử viết: “Cử trực, thố chư uổng, năng sử uổng giả trực.” Phàn trì thối, kiến Tử Hạ viết: “Hướng dã ngô kiến ư Phu tử nhi vấn trí. Tử viết: ‘Cử trực, thố chư uổng, năng sử uổng giả trực.’ Hà vị dã?” Tử Hạ viết: “Phú tai ngôn hồ! Thuấn hữu thiên hạ, tuyển ư chúng, cử Cao Dao; bất nhân giả viễn hỹ. Thang hữu thiên hạ, tuyển ư chúng, cử Y Doãn; bất nhân giả viễn hỹ.”

Dịch (Nguyễn Hiến Lê)

Phàn Trì hỏi về đức nhân. Khổng tử đáp: “Yêu người”. Hỏi về đức trí, đáp: “Biết người”. Phàn Trì chưa hiểu rõ, Khổng tử giảng thêm: “Đề bạt người chính trực lên trên người cong queo thì có thể khiến cho người cong queo hoá ra chính trực”. Phàn Trì lui ra, kiếm Tử Hạ hỏi: “Mới rồi, tôi vô yết kiến thầy, hỏi về trí. Thầy bảo: “Đề bạt người chính trực lên trên người cong queo thì có thể khiến cho người cong queo hoá ra chính trực”. Như vậy nghĩa là sao?” Tử Hạ đáp: “Lời thầy hàm súc lắm. Ông Thuấn khi có thiên hạ (lên ngôi thiên tử) tuyển chọn trong dân chúng mà đề bạt ông Cao Dao, mà những kẻ bất nhân đều xa lánh. Ông Thang khi có thiên hạ, tuyển chọn trong dân chúng mà đề bạt ông Y Doãn, mà những kẻ bất nhân đều xa lánh.”

Chú thích (Nguyễn Hiến Lê)

Cao Dao là hiền thần vua Thuấn. Y Doãn là hiền thần vua Thang.


(2) Trong Chu Tử Chương Cú của chương 6 phần Truyện của sách Đại Học viết:

言欲自脩者、知為善以去其惡、則當實用其力而禁止其自欺、使其惡惡則如惡惡臭、好善則如好好色。

Ngôn dục tự tu giả, tri vi thiện dĩ khứ kỳ ác, tắc đương thực dụng kỳ lực nhi cấm chỉ kỳ tự khi, sử kỳ ố ác tắc như ố ác xú, háo thiện tắc như háo hảo sắc

Tạm dịch

Ý nói người muốn tự rèn luyện bản thân thì cần phải biết thực hiện điều thiện (tốt) từ bỏ điều ác (xấu), cấm tự lừa dối mình, bắt bản thân ghét điều ác như ghét mùi hôi thúi, yêu thích điều thiện như yêu thích màu sắc đẹp.

Trong Chu Tử Chương Cú của chương 1 phần Kinh của sách Đại Học viết:

蓋必其有以盡夫天理之極,而無一毫人欲之私也

 Cái tất kỳ hữu dĩ tận phu thiên lý chi cực, nhi vô nhất hào nhân dục chi tư dã.

Tạm dịch

 Chắc chắn cần phải hết sức đạt đến điểm cao nhất của lẽ trời và không có 1 chút nhỏ nào lòng ham muốn riêng tư.

Trong Tứ Thư Đại Toàn khi chú giải câu Nhân giai hữu bất nhẫn nhân chi tâm人皆有不忍人之心 (con người ai cũng có lòng không nỡ bỏ qua người đang bị khốn khổ) trong chương 6 thiên 3 Công Tôn Sửu thượng sách Mạnh Tử viết:

新安陳氏曰…. 此章亦在於遏人欲擴天理也

Tân An Trần thị viết…thử chương diệc tại ư át nhân dục khuếch thiên lý dã.

Tạm dịch

Trần Lịch (1252-1334, thời Nguyên) của Tân An nói: ...Chương này lại  nói cấm lòng ham muốn của con người và làm rộng lớn lẽ trời.

(3) Tư Trị Thông Giám Cương Mục thường được gọi là Thông Giám Cương Mục do Chu Hy biên soạn lại sách sử Tư Trị Thông Giám của Tư Mã Quan (1019~ 1086) theo lập luận danh phận và chính thống của ông chứ không có thông tin lịch sử mới. Sách gồm có 59 quyển.

    Tư Trị Thông Giám vốn có tên là Thông Chí通志, vua Tống Thần Tông đã đổi thành Tư Trị Thông Giám. Sách gồm có 294 quyển.

 

(4) Lý Tính Đại Toàn. Thời Minh, Chu tử học trở thành môn học của quan lại nên Vĩnh Lạc đế (1360~1424) đã ra lệnh cho Hồ Quảng胡広 và nhiều học giả khác biên soạn Tứ Thư Đại Toàn, Ngũ Kinh Đại Toàn, Lý Tính Đại Toàn, gọi là Vĩnh Lạc Tam Đại Toàn.

Lý Tính Đại Toàn gồm 70 quyển. Theo Quốc Ngữ Đại Từ Điển (tiếng Nhật) , quyển 1 ~ 25 biên tập các nguyên điển của Chu tử周子(Chu Đôn Di), Trương tử張子(Trương Tái), Chu tử朱子(Chu Hy) và chú giải chi tiết; quyễn 26 ~70 biên tập các giải thích của các học giả khác trong Chu tử học theo phân loại của 13 hạng mục.

 

(5) Thương Ưởng商鞅 (TCN 390 ~ TCN 338) là nhà chính trị, Tướng quân, thuộc học phái chủ trương pháp luật và hình phạt là quan trọng trong việc quản lý quốc gia (pháp gia), binh gia của nước Tần thời Chiến Quốc của Trung Quốc.

Nguyên văn

仁者養之道也。故治国家之道。挙直錯諸枉。能使枉者直矣。修身之道。亦養其善而悪自消矣。先王之道之術也。後世儒者不識先王之道。逎逞其私智。以謂為善而去悪。拡天理而遏人欲也。此見一立。世非唐虞。人非聖人。必悪多而善少。則殺気塞天地矣。故通鑑之於治国。性理之於修身。人与我皆不勝其苛刻焉。遂使世人謂儒者喜攻人。豈不悲哉。大氐商鞅之後。不啻朝廷。雖庠序亦用其法。宜其不及三代矣。 

Âm Hán Việt của nguyên văn

Nhân giả dưỡng chi đạo dã. Cố trị quốc gia chi đạo. Cử trực thác chư uổng. Năng sử uổng giả trực hỹ. Tu thân chi đạo. Diệc dưỡng kỳ thiện nhi ác tự tiêu hỹ. Tiên vương chi đạo chi thuật dã. Hậu thế Nho giả bất thức tiên vương chi đạo. Tù sính kỳ tư trí. Dĩ vị vi thiện nhi khứ ác. Khuếch thiên lý nhi át nhân dục dã. Thử kiến nhất lập. Thế phi Đường Ngu. Nhân phi thánh nhân. Tất ác đa nhi thiện thiểu. Tắc sát khí hàn thiên địa hỹ. Cố Thông Giám chi ư trị quốc. Tính lý chi ư tu thân. Nhân dữ ngã giai bất thắng kỳ hà khắc yên. Toại sử thế nhân vị Nho giả hỹ công nhân. Khởi bất bi tai! Đại để Thương Ưởng chi hậu. Bất thí triều đình. Tuy tường tự diệc dụng kỳ pháp. Nghi kỳ bất cập tam đại hỹ. 

Tài liệu tham khảo

(1) Trách nhiệm biên tập Bitô Masahide (1983): Ogyu Sorai – Danh Trứ của Nhật Bản 16, Chuo Koron sha.

(2)  Nhiều dịch giả/tác giả (1973): Ogyu Sorai – Nhật Bản Tư Tưởng Đại Hệ 36, Iwanami Shoten.








Tình Anh - Anh Khờ

 Tình Anh

(Thơ "dzui") 

Tình anh như hũ "dza ua"  
Ăn vào mát lạnh hơi chua... nhưng ghiền  
Tình anh là củ khoai nghiền
Nhuyễn mềm dzễ nuốt khỏi phiền phải nhai
Tình anh giống hột ô mai
Ngậm lâu mặn ngọt vẫn hoài trong răng  
Tình anh nước đá bào chăng?
Để lâu tiêu hết chẳng hăng... mùi gì  

Anh Khờ